Theo Nghị quyết, quy trình cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường điện tử, trên cơ sở tổ chức, cá nhân tự kê khai và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin. Việc cải cách thủ tục được thực hiện theo nguyên tắc không phát sinh thêm thành phần hồ sơ, giảm thời gian giải quyết và tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động sản xuất, sơ chế, đóng gói nông sản.
Cơ chế quản lý cũng được đổi mới theo hướng chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Việc kiểm tra trước khi cấp mã số chỉ thực hiện đối với các trường hợp thị trường nhập khẩu có yêu cầu. Đối với những trường hợp còn lại, cơ quan có thẩm quyền thực hiện cấp mã trên cơ sở hồ sơ kê khai, sau đó tăng cường giám sát, kiểm tra việc duy trì các điều kiện, truy xuất nguồn gốc và xử lý vi phạm theo quy định.
Hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói được đơn giản hóa, chỉ gồm đơn đề nghị theo mẫu. Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói.
Đối với trường hợp không đăng ký xuất khẩu vào thị trường có yêu cầu về mã số, thời hạn giải quyết không quá 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp đăng ký xuất khẩu sang thị trường có yêu cầu về mã số, thời hạn giải quyết không quá 10 ngày làm việc, bao gồm thời gian kiểm tra và ban hành thông báo cấp mã theo quy định.
Đối với các thị trường yêu cầu mã số phải được cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu phê duyệt, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh có trách nhiệm tổng hợp hồ sơ, gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường để chuyển đến phía nước nhập khẩu xem xét, chấp thuận theo quy định.
Nghị quyết phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ, cấp, cấp lại, tạm dừng, khôi phục và thu hồi mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Việc giao thêm thẩm quyền cho chính quyền cơ sở nhằm rút ngắn quy trình xử lý, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời gắn trách nhiệm quản lý với tình hình sản xuất thực tế tại địa phương.
Đối với các trường hợp cấp mã số không phải kiểm tra trước, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức hậu kiểm trong thời hạn tối đa 3 tháng kể từ ngày cấp mã. Qua hậu kiểm, cơ quan chức năng kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và xử lý các trường hợp vi phạm hoặc không còn đáp ứng điều kiện theo quy định.

Ảnh minh họa
Dữ liệu về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói được quản lý tập trung trên hệ thống điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản và các cơ sở dữ liệu có liên quan. Danh sách mã số cùng trạng thái hoạt động sẽ được công khai, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, kiểm tra, giám sát và tra cứu thông tin.
Nghị quyết cũng khuyến khích tổ chức, cá nhân, hợp tác xã và tổ hợp tác tăng cường liên kết sản xuất, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, có quy mô phù hợp. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý vùng trồng, kiểm soát chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn của các thị trường nhập khẩu.
Vị trí vùng trồng được xác định trên cơ sở mã định danh thửa đất trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Trường hợp chưa có mã định danh thửa đất, người dân được tự kê khai diện tích, vị trí vùng trồng; Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện xác nhận trong quá trình kiểm tra thực tế hoặc hậu kiểm. Quy định này góp phần giảm giấy tờ, tháo gỡ khó khăn trong thời gian cơ sở dữ liệu đất đai đang tiếp tục được hoàn thiện.
Giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng nghị định sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm bố trí nhân lực, kinh phí, hạ tầng kỹ thuật và các điều kiện cần thiết để chính quyền cấp xã thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được phân cấp.
English


