A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Gia Lai tìm giải pháp quản lý cư trú hiệu quả tại vùng chuyên canh cây công nghiệp

(gialai.gov.vn) - Với diện tích tự nhiên 21.576,53 km², lớn thứ hai cả nước, Gia Lai đang đối mặt với không ít thách thức trong công tác quản lý cư trú. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, toàn tỉnh có 135 đơn vị cấp xã, gồm 25 phường và 110 xã, với 894.525 hộ, 3.648.042 nhân khẩu. Trên địa bàn rộng, dân cư phân bố không đồng đều, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 23,78%, việc triển khai Luật Cư trú năm 2020 không chỉ là yêu cầu về số hóa, hiện đại hóa công tác quản lý dân cư, mà còn đòi hỏi phải tháo gỡ những khó khăn thực tế phát sinh từ đặc thù vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, vùng sâu, vùng xa.

Sau 5 năm quyết liệt triển khai Luật Cư trú năm 2020 và đẩy mạnh cải cách hành chính, Gia Lai đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong quản lý dân cư, cung cấp dịch vụ công và chuyển đổi số ở cơ sở. Tuy nhiên, bên cạnh những con số ghi nhận sự chuyển biến rõ nét, tỉnh cũng thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, vướng mắc đang tác động đến tiến độ chuyển đổi số, nhất là tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tập trung.

Bài toán quản lý cư trú trong mùa vụ

Vào những tháng cuối năm, các vùng chuyên canh cây công nghiệp của Gia Lai bước vào mùa thu hoạch cà phê, hồ tiêu, sầu riêng. Không khí lao động, sản xuất diễn ra sôi động, kéo theo lượng lớn lao động thời vụ từ nhiều địa phương đến làm thuê. Đây cũng là thời điểm công tác quản lý cư trú đặt ra nhiều thách thức đối với chính quyền cơ sở và lực lượng quản lý hành chính.

 Ảnh minh họa

Thực tế cho thấy, việc quản lý cư trú đối với đồng bào dân tộc thiểu số và lao động tự do tại các địa bàn này còn gặp nhiều khó khăn. Lực lượng lao động thời vụ thường xuyên di chuyển từ nơi này sang nơi khác, thời gian lưu trú ngắn, không ổn định, khiến việc nắm bắt thông tin cư trú, cập nhật biến động dân cư chưa kịp thời.

Tại một số nông trường, lâm trường và khu vực sản xuất quy mô lớn, chủ sử dụng lao động thường bố trí lán trại, khu lưu trú tạm thời ngay tại nơi sản xuất. Các điểm lưu trú này phần lớn nằm xa trung tâm hành chính cấp xã, điều kiện đi lại không thuận lợi. Vì vậy, một bộ phận người lao động còn tâm lý ngại di chuyển, chưa chủ động hoặc chưa thực hiện đầy đủ việc khai báo cư trú theo quy định. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến công tác nắm tình hình địa bàn, quản lý dân cư và bảo đảm an ninh, trật tự tại cơ sở.

Những khoảng trống trong quản lý cư trú không chỉ xuất phát từ yếu tố địa lý, mà còn đến từ rào cản về nhận thức và thói quen sinh hoạt của người dân. Ở một số địa phương, công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Cư trú chưa thật sự thường xuyên, sâu rộng; việc đưa dịch vụ công trực tuyến đến với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều trở ngại. Nhiều người dân vẫn quen với cách làm truyền thống, khi có nhu cầu giải quyết thủ tục hành chính thì trực tiếp đến trụ sở xã hoặc cơ quan công an để gặp cán bộ, thay vì thực hiện trên điện thoại thông minh, máy tính hoặc các nền tảng trực tuyến.

Khi công nghệ và nhân lực cơ sở còn khó khăn

Cùng với những đặc thù về địa bàn, việc khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tại cấp xã hiện vẫn còn một số hạn chế. Nguồn nhân lực am hiểu công nghệ thông tin ở cơ sở chưa đồng đều. Khi phát sinh tình huống nghiệp vụ hoặc lỗi phần mềm trong quá trình đăng ký, quản lý cư trú, một số cán bộ còn lúng túng, chưa xử lý kịp thời, dứt điểm.

Hạ tầng kỹ thuật tại các khu vực xa trung tâm cũng là một thách thức đáng kể. Đường truyền mạng ở một số nơi chưa ổn định, có thời điểm chập chờn, làm gián đoạn quá trình tiếp nhận, cập nhật và xử lý thông tin trên hệ thống. Những lỗi kỹ thuật phát sinh trong quá trình vận hành, dù nhỏ lẻ, nhưng khi lặp lại nhiều lần đã ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết công việc, làm mất thời gian của cả cán bộ và người dân.

Áp lực công việc đối với lực lượng Công an cấp xã cũng ngày càng lớn. Trong điều kiện biên chế cơ sở còn mỏng, một số cán bộ chưa được đào tạo, tập huấn chuyên sâu về nghiệp vụ quản lý hành chính, khối lượng công việc sau sắp xếp đơn vị hành chính lại tăng mạnh. Cán bộ Công an cấp xã cùng lúc phải thực hiện nhiều nhiệm vụ như tuần tra, bảo đảm an ninh trật tự, trực ban, tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và quản lý cư trú, dẫn đến tình trạng quá tải ở một số địa bàn.

Định hình giải pháp từ thực tiễn

Từ thực tiễn tại các vùng chuyên canh nông nghiệp, lâm nghiệp và khu vực có đông lao động thời vụ, UBND tỉnh Gia Lai đã tổng hợp, đề xuất nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, nâng cao hiệu quả công tác quản lý cư trú.

Về cơ chế, chính sách, tỉnh kiến nghị Bộ Công an xem xét, tham mưu cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến Luật Cư trú, Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở và các văn bản có liên quan, bảo đảm phù hợp hơn với đặc thù sinh sống, làm việc, cư trú mang tính thời vụ của người dân tại các địa bàn nông nghiệp, lâm nghiệp.

Về nhân lực, tỉnh đề xuất tăng cường tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về nghiệp vụ quản lý cư trú, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cho lực lượng Công an cấp xã. Đây là giải pháp cần thiết nhằm giúp cán bộ cơ sở nâng cao kỹ năng xử lý tình huống, chủ động vận hành hệ thống, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Bên cạnh đó, Gia Lai cũng kiến nghị tiếp tục đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; tăng cường kết nối, chia sẻ, phân quyền khai thác thông tin đồng bộ giữa Bộ Công an và các cơ quan nhà nước có liên quan. Khi dữ liệu được cập nhật đầy đủ, liên thông và khai thác hiệu quả, công tác quản lý cư trú sẽ có thêm nền tảng quan trọng để phục vụ quản lý nhà nước, bảo đảm an ninh, trật tự và giải quyết thủ tục hành chính cho người dân.

Chuyển đổi số trong quản lý dân cư là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, sát thực tiễn và phù hợp với điều kiện từng địa bàn. Với việc thẳng thắn nhận diện khó khăn, chủ động đề xuất giải pháp tháo gỡ và từng bước hoàn thiện phương thức quản lý, Gia Lai đang nỗ lực xây dựng nền hành chính phục vụ thực chất, linh hoạt, hiệu quả, vừa bảo đảm yêu cầu quản lý dân cư, vừa tạo thuận lợi hơn cho người dân trong tiếp cận dịch vụ công.

Tác giả: Kim Khánh
Biên tập: Trang Lê

Tin nổi bật Tin nổi bật