Thực hiện Kế hoạch phối hợp số 12/KHPH-UBND-C12 ngày 14/01/2026 giữa Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai và Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Bộ Công an về xây dựng, triển khai mô hình điểm Chiến lược dữ liệu tại tỉnh Gia Lai, các cơ quan, đơn vị đã tập trung rà soát hiện trạng, xác định nhiệm vụ trọng tâm và kiện toàn cơ chế chỉ đạo, điều hành về dữ liệu. Đến nay, 09/19 nhiệm vụ đã hoàn thành; 10/19 nhiệm vụ còn lại đang được triển khai theo tiến độ, trong đó có 04 nhiệm vụ do Trung tâm Dữ liệu quốc gia (Cục C12), Bộ Công an chủ trì.
.jpg)
Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai và Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Bộ Công an ký kết hợp tác triển khai mô hình điểm Chiến lược dữ liệu tại tỉnh Gia Lai.
Để bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 164/QĐ-UBND ngày 14/01/2026 thành lập Ban Chỉ đạo về dữ liệu tỉnh Gia Lai; đồng thời ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động, thành lập Tổ giúp việc để tham mưu triển khai các nhiệm vụ. Công an tỉnh được giao làm Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo, trực tiếp là Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (PC06) tham mưu theo dõi, đôn đốc và tổng hợp tình hình, kết quả thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng được tỉnh tập trung triển khai là xây dựng Chiến lược dữ liệu tỉnh Gia Lai đến năm 2030. Đây là lĩnh vực mới, phạm vi rộng, liên quan đến hầu hết các ngành, lĩnh vực và đòi hỏi sự kết hợp giữa yêu cầu pháp lý, quản trị, công nghệ với bảo đảm an ninh, an toàn. Quá trình xây dựng Chiến lược được tiến hành trên cơ sở nghiên cứu Luật Dữ liệu, Chiến lược dữ liệu quốc gia, Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, các tài liệu hướng dẫn của Trung ương và kết quả khảo sát thực tế tại địa phương.
Dự thảo Chiến lược đã được tổ chức lấy ý kiến qua nhiều vòng đối với các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn và các sở, ban, ngành của tỉnh. Những nội dung liên quan đến quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, mô hình quản trị, lộ trình xây dựng Kho dữ liệu dùng chung và các nền tảng công nghệ được trao đổi, giải trình, tiếp thu tại hội nghị chuyên đề, bảo đảm vừa bám sát định hướng của Trung ương, vừa phù hợp với điều kiện, nguồn lực và yêu cầu phát triển lâu dài của tỉnh.
Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chiến lược dữ liệu tỉnh Gia Lai đến năm 2030 tại Quyết định số 966/QĐ-UBND. Chiến lược xác định định hướng từng bước chuyển từ tổng hợp, báo cáo thủ công sang quản trị, chỉ đạo và điều hành dựa trên dữ liệu; xây dựng Kho dữ liệu dùng chung, nền tảng chia sẻ, điều phối và phân tích dữ liệu; phát triển dữ liệu mở và các ứng dụng dữ liệu phục vụ chính quyền số, kinh tế số, xã hội số.

Đồng chí Lâm Hải Giang, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, chủ trì Hội nghị chuyên đề xây dựng Chiến lược dữ liệu tỉnh Gia Lai đến năm 2030.
Từ định hướng của Chiến lược, tỉnh tiếp tục hoàn thiện các công cụ cần thiết để tổ chức quản trị dữ liệu thống nhất. Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị, quản lý dữ liệu, Danh mục và Từ điển dữ liệu dùng chung tỉnh Gia Lai tại Quyết định số 1088/QĐ-UBND; ban hành Mô hình nghiệp vụ dữ liệu tỉnh Gia Lai tại Quyết định số 1628/QĐ-UBND. Tiếp đó, trên cơ sở tham mưu của Công an tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Danh mục dữ liệu chủ, dữ liệu gốc tỉnh Gia Lai tại Quyết định số 2765/QĐ-UBND ngày 29/6/2026. Danh mục góp phần xác định thống nhất các nhóm dữ liệu cốt lõi, cơ quan chủ quản và trách nhiệm quản lý, cập nhật, kết nối, chia sẻ dữ liệu; hạn chế tình trạng dữ liệu được tạo lập phân tán, thiếu thống nhất hoặc trùng lặp giữa các cơ quan.
Việc liên tiếp ban hành các quyết định nêu trên đã bước đầu hình thành hệ thống định hướng, kiến trúc và cơ chế quản trị dữ liệu tương đối đồng bộ trên địa bàn tỉnh. Nếu Chiến lược dữ liệu xác định tầm nhìn, mục tiêu và lộ trình tổng thể thì Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị, Mô hình nghiệp vụ, Danh mục và Từ điển dữ liệu là những công cụ để cụ thể hóa trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình tạo lập, quản lý, chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu.
Cùng với hoàn thiện các văn bản nền tảng, tỉnh đã tổ chức rà soát 51 cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin chuyên ngành đang được các sở, ngành quản lý, khai thác; đánh giá hiện trạng và mức độ sẵn sàng kết nối, chia sẻ vào Kho dữ liệu dùng chung. Qua rà soát, nhiều dữ liệu quan trọng đã được hình thành trên các lĩnh vực, phục vụ trực tiếp công tác chuyên môn, giải quyết thủ tục hành chính và quản lý nhà nước. Tuy nhiên, dữ liệu vẫn còn phân tán, chất lượng chưa đồng đều; một số hệ thống chưa có giao diện kết nối, chưa xây dựng đầy đủ từ điển dữ liệu hoặc chưa đáp ứng đồng bộ các điều kiện về kỹ thuật và an toàn thông tin.
Từ kết quả đánh giá, các cơ quan chức năng đã tổng hợp những khó khăn, vướng mắc, đề xuất lộ trình khắc phục và yêu cầu các đơn vị tiếp tục chuẩn hóa, làm sạch dữ liệu theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”; đồng thời chuẩn bị điều kiện kỹ thuật để kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu hiệu quả. Đây là bước chuẩn bị quan trọng để việc xây dựng Kho dữ liệu dùng chung của tỉnh gắn với nguồn dữ liệu thực tế, có chất lượng và đáp ứng yêu cầu khai thác.
Quá trình phát triển dữ liệu của tỉnh luôn gắn với yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn, bảo vệ dữ liệu cá nhân và kiểm soát quyền truy cập. Việc mở rộng kết nối, chia sẻ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi dữ liệu được quản lý đúng thẩm quyền, sử dụng đúng mục đích và bảo vệ an toàn trong suốt quá trình tạo lập, lưu trữ, truyền dẫn, khai thác.
Những kết quả đạt được thời gian qua đã tạo nền móng quan trọng để Gia Lai từng bước hình thành phương thức quản trị dựa trên dữ liệu. Đây không chỉ là việc xây dựng thêm các hệ thống công nghệ mà còn là quá trình thay đổi tư duy quản lý, xác định dữ liệu là tài sản cần được quản trị thống nhất, cập nhật thường xuyên và khai thác hiệu quả.
Thời gian tới, Ban Chỉ đạo về dữ liệu tỉnh sẽ tiếp tục chỉ đạo các sở, ban, ngành đưa Chiến lược và các văn bản nền tảng đã ban hành vào thực tiễn; tập trung nâng cao chất lượng dữ liệu, thúc đẩy kết nối, chia sẻ, xây dựng Kho dữ liệu dùng chung và bảo đảm an ninh, an toàn. Qua đó, từng bước biến dữ liệu thành nguồn lực phục vụ chỉ đạo, điều hành, cải cách thủ tục hành chính, phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
English


