
Ảnh minh họa (Nguồn: dantocphattrien.vietnamnet.vn)
Việc phê duyệt danh sách được thực hiện trên cơ sở rà soát, xác định thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn sau sắp xếp theo Nghị định số 272/2025/NĐ-CP ngày 16/10/2025 của Chính phủ và các văn bản có liên quan. Danh sách chi tiết các thôn, xã, phường và kết quả phân định từng khu vực được ban hành kèm theo Quyết định số 3363/QĐ-UBND ngày 11/8/2026 của UBND tỉnh Gia Lai, làm căn cứ tổ chức thực hiện các chính sách trong giai đoạn 2026-2030.
Theo danh sách được phê duyệt, toàn tỉnh có 956 thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó 647 thôn có yếu tố dân tộc thiểu số, 936 thôn thuộc khu vực miền núi và 410 thôn được xác định là thôn đặc biệt khó khăn.
Các thôn được xác định cụ thể đến từng xã, phường, với các tiêu chí về thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thôn miền núi và thôn đặc biệt khó khăn. Phạm vi phân bố trải rộng trên địa bàn tỉnh, từ các địa phương phía Đông như An Lão, An Vinh, An Toàn, Vĩnh Thạnh, Vân Canh đến các địa phương phía Tây như Chư Păh, Kbang, Mang Yang, Chư Prông, Đức Cơ, Ia Grai, Chư Sê, Phú Thiện, Phú Túc và nhiều địa phương khác.
Cùng với việc xác định các thôn, UBND tỉnh phân định 93 xã, phường thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, gồm 7 địa phương khu vực I, 13 địa phương khu vực II và 73 địa phương khu vực III. Trong số này, 80 xã, phường thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và 91 xã, phường thuộc vùng miền núi.
Bảy địa phương khu vực I gồm các phường An Khê, An Phú, Ayun Pa, Diên Hồng, Pleiku và các xã Chư Sê, Vĩnh Thạnh. Các địa phương này có tổng cộng 101 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 2 thôn đặc biệt khó khăn.
Mười ba địa phương khu vực II gồm các phường An Bình, Hội Phú, Thống Nhất và các xã An Hòa, Chư Păh, Chư Prông, Cửu An, Đak Đoa, Đức Cơ, Ia Grai, Ia Hrung, Kbang, Vạn Đức. Nhóm này có 153 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó 34 thôn đặc biệt khó khăn.
Đối với khu vực III, 73 địa phương có tổng cộng 697 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó 373 thôn đặc biệt khó khăn. Các địa phương gồm: Al Bá, An Lão, An Toàn, Ân Tường, An Vinh, Ayun, Bàu Cạn, Biển Hồ, Bình Phú, Bờ Ngoong, Canh Liên, Canh Vinh, Chơ Long, Chư A Thai, Chư Krey, Chư Pưh, Đak Pơ, Đak Rong, Đak Sơmei, Đăk Song, Gào, Hội Sơn, Hra, Ia Băng, Ia Boòng, Ia Chia, Ia Dơk, Ia Dom, Ia Dreh, Ia Hiao, Ia Hrú, Ia Khươl, Ia Ko, Ia Krái, Ia Krêl, Ia Lâu, Ia Le, Ia Ly, Ia Mơ, Ia Nan, Ia O, Ia Pa, Ia Phí, Ia Pia, Ia Pnôn, Ia Púch, Ia Rbol, Ia Rsai, Ia Sao, Ia Tôr, Ia Tul, KDang, Kim Sơn, Kon Chiêng, Kon Gang, Kông Bơ La, Kông Chro, Krong, Lơ Pang, Mang Yang, Phú Thiện, Phú Túc, Pờ Tó, Sơn Lang, SRó, Tơ Tung, Uar, Vân Canh, Vĩnh Quang, Vĩnh Sơn, Vĩnh Thịnh, Ya Hội và Ya Ma.
Ngoài số thôn thuộc 93 địa phương được phân định khu vực I, II và III, danh sách còn xác định 5 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nằm ngoài các địa phương thuộc 3 khu vực trên, trong đó có 1 thôn đặc biệt khó khăn. Qua đó, tổng số toàn tỉnh được xác định là 956 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, với 410 thôn đặc biệt khó khăn.
Số lượng và tỷ lệ thôn đặc biệt khó khăn giữa các địa phương có sự chênh lệch đáng kể. Một số xã có toàn bộ thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn như An Vinh với 7/7 thôn, An Toàn 5/5 thôn, Đak Rong 5/5 thôn, Krong 5/5 thôn, Kon Chiêng 6/6 thôn, SRó 6/6 thôn, Đăk Song 3/3 thôn, Chơ Long 5/5 thôn và Ia Pnôn 3/3 thôn.
Một số địa phương khác có số lượng thôn đặc biệt khó khăn tương đối lớn như Bờ Ngoong với 16/19 thôn, Ia Hrú 13/19 thôn, Ia Krêl 12/15 thôn, Lơ Pang 11/12 thôn, Ia Khươl 10/11 thôn, Ia Rsai 9/10 thôn, Ia Hiao 9/11 thôn, Phú Thiện 9/22 thôn và Chư Prông 9/19 thôn.
Trong khi đó, một số địa phương thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhưng không có thôn đặc biệt khó khăn, như các phường An Khê, An Phú, Ayun Pa, Diên Hồng, Pleiku, Hội Phú, Thống Nhất, An Bình và các xã Chư Sê, Đak Đoa, Hội Sơn, Ia Dom, Ia Sao, Ia Tôr.
Theo Quyết định, trong quá trình tổ chức thực hiện, trường hợp có chia tách, sáp nhập thôn, xã hoặc phát sinh yêu cầu của cấp có thẩm quyền, việc rà soát, xác định và phân định lại được thực hiện theo Điều 10 Nghị định số 272/2025/NĐ-CP. Số liệu phục vụ xác định các tiêu chí là số liệu tại thời điểm ngày 31/12 của năm liền kề trước năm thực hiện rà soát.
Quyết định số 3363/QĐ-UBND có hiệu lực kể từ ngày 11/8/2026, đồng thời thay thế Quyết định số 209/QĐ-UBND ngày 16/1/2026 và Quyết định số 1093/QĐ-UBND ngày 31/3/2026 của UBND tỉnh Gia Lai.
English


