Theo Nghị định, thôn, tổ dân phố là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú trong một khu vực thuộc phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã, phường, đặc khu; là nơi thực hiện dân chủ trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt động tự quản của Nhân dân trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ảnh minh họa
Việc tổ chức thôn, tổ dân phố phải bảo đảm tinh gọn, hiệu quả; phù hợp với quy mô dân cư, đặc điểm địa bàn và yêu cầu quản lý của chính quyền địa phương cấp xã. Hoạt động của thôn, tổ dân phố phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.
Nghị định quy định thôn có Trưởng thôn, tổ dân phố có Tổ trưởng tổ dân phố là người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Nhiệm kỳ của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố là 05 năm. Người làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố phải là công dân Việt Nam cư trú thường xuyên tại địa bàn xã, phường, đặc khu từ 21 tuổi trở lên; có phẩm chất đạo đức tốt; gương mẫu chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có kiến thức văn hóa, năng lực, kinh nghiệm và phương pháp vận động, tổ chức Nhân dân.
Về thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố, Nghị định quy định phải bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; phù hợp với điều kiện tự nhiên, quy mô dân cư, đặc điểm địa bàn, truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương. Thẩm quyền quyết định thuộc Hội đồng nhân dân cấp xã; ở đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương thì Ủy ban nhân dân đặc khu quyết định theo quy định.
Nghị định quy định tiêu chuẩn quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố theo từng vùng. Trong đó, tại Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên; vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên. Nghị định cũng quy định các trường hợp đặc thù về quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố thuộc địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn biên giới, hải đảo, khu vực quy hoạch giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư hoặc khu vực có dân cư sinh sống phân tán.
Về số lượng, chức danh, người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố gồm: Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố; Bí thư Chi bộ; Trưởng Ban Công tác Mặt trận. Số lượng người hoạt động không chuyên trách ở mỗi thôn, tổ dân phố không quá 03 người.
Về chế độ, chính sách, ngân sách nhà nước khoán quỹ phụ cấp hằng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo phân cấp ngân sách hiện hành. Mức khoán bằng 8,0 lần mức lương cơ sở áp dụng đối với thôn có từ 700 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã ở khu vực biên giới, hải đảo; thôn đặc biệt khó khăn. Các thôn, tổ dân phố còn lại được khoán quỹ phụ cấp bằng 6,5 lần mức lương cơ sở. Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và các chế độ, chính sách khác theo quy định của pháp luật.
Nghị định số 185/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 26/5/2026. Nghị định bãi bỏ các quy định liên quan đến người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ.
English


