A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tổng hợp tin tức ngày 25/5/2026

Thống nhất đề xuất đầu tư tuyến cao tốc kết nối Gia Lai – Đắk Lắk – Lâm Đồng

Thống nhất đề xuất đầu tư tuyến cao tốc kết nối Gia Lai – Đắk Lắk – Lâm Đồng - Ảnh 1
Ông Trần Hồng Minh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng chủ trì cuộc họp

Bộ Xây dựng cùng lãnh đạo các tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai và Đắk Lắk đã thống nhất đề xuất đầu tư Dự án đường bộ cao tốc Bắc – Nam phía Tây đoạn Pleiku – Buôn Ma Thuột – Gia Nghĩa theo hình thức đối tác công tư (PPP), phấn đấu hoàn thành trước năm 2030.
Ngày 25/5, Bộ Xây dựng tổ chức cuộc họp trực tuyến với 3 địa phương để bàn phương án đầu tư tuyến cao tốc kết nối khu vực Tây Nguyên. Cuộc họp do ông Trần Hồng Minh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng chủ trì.

Theo đề xuất của Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai, tuyến cao tốc Pleiku – Buôn Ma Thuột – Gia Nghĩa có tổng chiều dài khoảng 257km. Trong đó, đoạn qua tỉnh Gia Lai khoảng 56,7km; qua tỉnh Đắk Lắk khoảng 125,5km; qua tỉnh Lâm Đồng khoảng 74,8km.

Giai đoạn 1, dự án được đề xuất đầu tư quy mô 4 làn xe, nền đường rộng 24,75m, vận tốc thiết kế 100km/h. Điểm đầu tuyến tại Quốc lộ 19 (lý trình khoảng Km1+600), điểm cuối kết nối với tuyến cao tốc Gia Nghĩa – Chơn Thành, thuộc xã Nhân Cơ, tỉnh Lâm Đồng.

Tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 76.985 tỷ đồng. Nguồn vốn thực hiện theo phương thức PPP, trong đó nhà đầu tư huy động 30%, ngân sách nhà nước hỗ trợ 70%.

Theo phương án đề xuất, thời gian triển khai dự án tối đa 4 năm, gồm từ 6 tháng đến 1 năm chuẩn bị thủ tục đầu tư và khoảng 3 năm thi công, hoàn thành, đưa vào khai thác.

Tại cuộc họp, lãnh đạo 3 tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng đều thống nhất cao với đề xuất đầu tư tuyến cao tốc này, đồng thời khẳng định quyết tâm phối hợp triển khai để sớm hoàn thiện kết nối giao thông trục dọc khu vực Tây Nguyên.

Chủ tịch UBND tỉnh Hồ Văn Mười cho biết địa phương hiện đang triển khai 3 dự án cao tốc gồm Tân Phú – Bảo Lộc, Bảo Lộc – Liên Khương và Gia Nghĩa – Chơn Thành. Dù điều kiện ngân sách còn nhiều khó khăn, Lâm Đồng dự kiến cân đối 3.000 tỷ đồng để cùng Gia Lai và Đắk Lắk tham gia góp vốn thực hiện dự án cao tốc Pleiku – Buôn Ma Thuột – Gia Nghĩa.

Về phía Gia Lai, Bí thư Tỉnh ủy Thái Đại Ngọc cho biết địa phương đồng tình với chủ trương đầu tư tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Tây đoạn Pleiku – Buôn Ma Thuột – Gia Nghĩa. Tỉnh Gia Lai cam kết cân đối vốn hằng năm để triển khai công tác giải phóng mặt bằng, đồng thời thống nhất kiến nghị Bộ Xây dựng làm cơ quan chủ quản thực hiện dự án.

Đối với Đắk Lắk, Bí thư Tỉnh ủy Lương Nguyễn Minh Triết đánh giá tuyến cao tốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi chiều dài đi qua địa bàn tỉnh khoảng 126km, tạo động lực lớn cho phát triển kinh tế - xã hội địa phương trong giai đoạn tới. Đắk Lắk thống nhất đề xuất đầu tư dự án trong giai đoạn 2026 – 2030 theo phương thức PPP với tỷ lệ vốn 70 – 30, nhằm bảo đảm nguồn lực triển khai và hiệu quả thu hồi vốn.

Về phía doanh nghiệp đề xuất dự án, ông Bùi Pháp, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai cam kết đẩy nhanh các thủ tục theo quy định của Luật PPP, sớm hoàn thiện hồ sơ đề xuất chủ trương đầu tư.

Nhà đầu tư cũng kiến nghị Bộ Xây dựng báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét chấp thuận giao Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai lập hồ sơ đề xuất dự án; đồng thời đề nghị Bộ Tài chính tham mưu bố trí nguồn vốn đầu tư công để triển khai trong giai đoạn 2026 – 2030.

Kết luận cuộc họp, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh nhấn mạnh tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Tây đoạn Pleiku – Buôn Ma Thuột – Gia Nghĩa là dự án có ý nghĩa chiến lược đối với khu vực Tây Nguyên, không chỉ với từng địa phương mà với toàn vùng.

Theo Bộ trưởng, đây là công trình đã được các địa phương nhiều lần kiến nghị Trung ương sớm triển khai nhằm tạo động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy liên kết vùng và hoàn thiện mạng lưới giao thông khu vực. Bộ trưởng Bộ Xây dựng đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự chủ động và đồng thuận của lãnh đạo 3 tỉnh trong quá trình xây dựng phương án đầu tư.

Để bảo đảm tiến độ, Bộ trưởng yêu cầu các địa phương phối hợp với tinh thần “nhanh nhất, mạnh nhất, quyết liệt nhất”, hoàn thiện hồ sơ để kịp trình Quốc hội xem xét thông qua chủ trương đầu tư vào tháng 10/2026, phấn đấu hoàn thành dự án trước năm 2030.

Cũng tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Hồ Văn Mười đề xuất Bộ Xây dựng quan tâm xem xét đầu tư tuyến cao tốc Gia Nghĩa – Bảo Lộc – Phan Thiết.

Theo lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng, đây là tuyến giao thông động lực có vai trò quan trọng trong mở rộng không gian phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường liên kết nội tỉnh và kết nối vùng. Nếu được Trung ương thống nhất chủ trương, địa phương sẽ tập trung nguồn lực để sớm triển khai dự án.

Đối với đề xuất này, Bộ trưởng Trần Hồng Minh đánh giá đây là tuyến giao thông quan trọng, cần được nghiên cứu triển khai ngay trong nhiệm kỳ này. Bộ trưởng đề nghị tỉnh Lâm Đồng tiếp tục rà soát, bổ sung vào kế hoạch đầu tư công, đồng thời sớm có văn bản gửi Bộ Xây dựng và Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Chính phủ xem xét trong thời gian tới.

Theo kinhtemoitruong.vn


 Gia Lai: Người dân Chư A Thai đồng lòng hiến đất mở đường, xây dựng nông thôn mới

Chính quyền xã Chư A Thai thành lập tổ vận động tuyên truyền để người dân nắm rõ chủ trương giải phóng mặt bằng

Từ những phần đất người dân tự nguyện hiến tặng, những con đường mới ở Chư A Thai, tỉnh Gia Lai đang dần hình thành. Đường rộng hơn, việc đi lại và vận chuyển nông sản cũng thuận lợi hơn. Hơn hết, trên mỗi tuyến đường ấy là sự đồng lòng của người dân cùng chính quyền địa phương trong hành trình xây dựng quê hương ngày càng khởi sắc.

Những ngày qua, thôn Kim Môn, xã Chư A Thai rộn ràng tiếng cười nói xen lẫn tiếng máy móc thi công tuyến đường liên thôn đang được mở rộng lên 8m.

Không khí khẩn trương, phấn khởi lan khắp thôn khi bà con cùng chung sức làm con đường mới khang trang, sạch đẹp, thuận lợi hơn cho việc đi lại, vận chuyển nông sản và hàng hóa. Để công trình sớm hoàn thành, nhiều hộ dân đã tự nguyện lùi hàng rào, hiến đất.

Gia đình ông Phạm Văn Hùng là một trong những hộ tiên phong, tháo dỡ toàn bộ bờ rào, hiến hơn 74m² đất.

“Gia đình tôi hiến phần đất rộng 3m tính từ mép đường cũ vào trong sân. Người dân đều đồng tình cùng Nhà nước làm đường để làng xóm sạch đẹp hơn, giao thông thuận tiện hơn, việc vận chuyển nông sản cũng dễ dàng hơn. Vì vậy, bà con nơi đây đều sẵn sàng hiến đất để Nhà nước triển khai”, ông Hùng chia sẻ.

Sự đồng thuận hiến đất làm đường cũng xuất phát từ thực tế đời sống, người dân đã gắn bó nhiều năm với những con đường liên thôn chật hẹp, được làm từ lâu đời. Trước đây, vào mùa thu hoạch, xe tải không thể vào tận nơi thu mua nông sản vì đường nhỏ, nhiều đoạn xuống cấp. Người dân phải chở lúa, khoai lang ra tận tỉnh lộ 662B để bán cho thương lái.

Ông Đỗ Văn Lời, Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn Kim Môn cho biết: “Khi chủ trương mở rộng đường được triển khai, các hộ dân đều nhanh chóng hưởng ứng. Bà con thống nhất cao vì làm đường là chính người dân được hưởng lợi, đời sống và việc đi lại cũng thuận tiện hơn.”

Để triển khai mở rộng các tuyến đường giao thông nông thôn, cùng với đội ngũ cán bộ ở xã, chính người dân còn tuyên truyền, động viên nhau cùng tham gia.

Ông Dương Văn Phon, ở thôn Hải Yên cho biết: “Không chỉ vận động bà con, chúng tôi còn nhắc nhau cùng cố gắng, vì mọi người cũng là vì mình. Mỗi nhà có mất một chút đất nhưng đổi lại con đường sẽ rộng rãi, đi lại thuận tiện hơn. Không chỉ đời mình mà con cháu sau này cũng được hưởng lợi, đời sống người dân nhờ đó sẽ phát triển hơn.”

Hải Yên và Kim Môn là hai thôn liền kề với gần 300 hộ dân sinh sống. Ông Trần Văn Nguyên, Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn Hải Yên, xã Chư A Thai cho biết, điều đáng mừng là cả 79 hộ dân sống dọc tuyến đường đều đồng thuận hiến đất mở rộng đường giao thông, thể hiện sự đồng thuận cao của người dân đối với chủ trương của Nhà nước.

“Bà con rất phấn khởi vì trước đây con đường này lầy lội, xuống cấp. Khi được tuyên truyền, vận động, ai cũng đồng lòng hiến đất, tháo dỡ cả những hàng rào xây kiên cố để mở rộng đường. Có cơ hội được Đảng, Nhà nước đầu tư làm đường nên bà con rất đồng thuận”, ông Nguyên cho biết.

Xã Chư A Thai (hình thành sau sáp nhập gồm các xã Ayun Hạ, Ia Ake và Chư A Thai), trở thành vùng sản xuất lúa trọng điểm phía Tây tỉnh Gia Lai.

Xác định hạ tầng giao thông là động lực phát triển, địa phương đã đầu tư 18 tuyến đường liên thôn với tổng vốn hơn 17,4 tỉ đồng. Trong đó, người dân đã tự nguyện hiến gần 5.000m² đất làm đường, đóng góp hơn 1,1 tỉ đồng.

Ông Phạm Văn Lượng, Chủ tịch UBND xã Chư A Thai cho biết, địa phương đang tiếp tục triển khai thêm 7 tuyến đường mới và nhận được sự đồng thuận cao của người dân. Trong quá trình thực hiện, xã đã thành lập các tổ tuyên truyền, vận động để người dân hiểu rõ chủ trương giải phóng mặt bằng.

Cả hệ thống chính trị tại các thôn vào cuộc, tiến hành vận động, tuyên truyền bà con hưởng ứng cuộc vận động hiến đất làm đường, góp phần xây dựng nông thôn mới ngày càng đẹp và khang trang hơn.

Theo baovanhoa.vn


 Gỡ khó đào tạo nghề ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Lao động nông thôn được học các lớp đào tạo nghề.
Lao động nông thôn được học các lớp đào tạo nghề.

Giữa nhiều khó khăn về giáo viên, cơ sở vật chất và tuyển sinh, Trung tâm GDNN-GDTX Kbang (Gia Lai) vẫn nỗ lực duy trì các lớp đào tạo nghề.

Nỗ lực duy trì lớp học vùng khó

Trên địa bàn miền núi còn nhiều khó khăn, nhu cầu học nghề để phát triển kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập của người dân ngày càng tăng. Tuy nhiên, các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên vẫn đang đối mặt với nhiều trở ngại về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, kinh phí đào tạo và công tác tuyển sinh.

Ông Bùi Tiến Phương, Giám đốc Trung tâm GDNN-GDTX Kbang (Gia Lai) cho biết, đơn vị phụ trách các xã Kbang, Sơn Lang, Tơ Tung, Kông Bơ La, Krong và Đăk Rong. Đây đều là những địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao.

Phần lớn lao động tại địa phương sống bằng nghề nông, trình độ học vấn không đồng đều, khả năng tiếp cận thị trường lao động còn hạn chế. Dù vậy, nhu cầu học nghề để phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập ngày càng lớn.

Theo ông Phương, những năm qua, Trung tâm GDNN-GDTX Kbang phối hợp với UBND các xã đẩy mạnh tuyên truyền, tư vấn học nghề. Bên cạnh đó, tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, góp phần giúp người dân phát triển kinh tế hộ gia đình, từng bước ổn định đời sống.

Nội dung đào tạo tập trung vào các nghề sát nhu cầu thực tế của địa phương như: Kỹ thuật trồng lúa năng suất cao, chăm sóc cây cà phê, cây mía; kỹ thuật nuôi và phòng bệnh cho trâu, bò; sửa chữa máy cày công suất nhỏ và kỹ thuật xây dựng dân dụng...

Để duy trì sĩ số học viên, Trung tâm triển khai nhiều giải pháp như tổ chức tuyên truyền, vận động học viên đến lớp bằng nhiều hình thức; tạo điều kiện chỗ ở; tổ chức sinh hoạt nội trú, lao động tập thể, tham quan các địa chỉ văn hóa truyền thống tại địa phương. Đơn vị tiếp tục duy trì phong trào thi đua “Huy động và duy trì sĩ số học viên” do Sở GD&ĐT phát động, đồng thời triển khai mô hình “Vượt khó - học tập tiến bộ” đối với học viên các xã vùng sâu, vùng xa như Đăk Rong, Krong, Sơn Lang.

Đặc biệt, mỗi giáo viên chủ nhiệm vừa trực tiếp giảng dạy, vừa theo dõi sát tình hình học tập của học viên, kịp thời tham mưu giải pháp vận động các em vượt qua khó khăn, hạn chế tình trạng bỏ học giữa chừng.

Áp lực thiếu giáo viên, khó tuyển sinh

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, công tác đào tạo nghề tại Trung tâm GDNN-GDTX Kbang vẫn đối mặt không ít khó khăn.

Theo ông Phương, đội ngũ giáo viên dạy nghề của Trung tâm hiện còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo đa ngành nghề nên phần lớn phải phụ thuộc vào giáo viên thỉnh giảng.

Năm học 2025-2026, Trung tâm có 11 cán bộ, giáo viên và nhân viên nhưng phải hợp đồng thêm 10 giáo viên thỉnh giảng. Trong đó, 4 giáo viên Trường THPT Lương Thế Vinh giảng dạy các môn văn hóa cấp THPT gồm Toán, Hóa học, Lịch sử, Địa lý và 6 giáo viên tham gia giảng dạy nghề cho lao động nông thôn.

Bên cạnh đó, cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ đào tạo còn thiếu và xuống cấp. Trung tâm hiện chưa có đầy đủ hạng mục như phòng học chức năng, phòng máy tính, thư viện, nhà bảo vệ, nhà để xe. Thiết bị phục vụ ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và thống kê giáo dục còn hạn chế. Hệ thống máy tính phục vụ học tập chỉ có khoảng 10 bộ, phần lớn đã cũ và hư hỏng; bảng tương tác được trang bị từ lâu cũng đã xuống cấp nhưng chưa được thay thế.

Địa bàn phụ trách rộng, giao thông đi lại khó khăn, người học phân tán khiến việc tổ chức lớp học gặp nhiều trở ngại. Đa số học viên là người Bahnar ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện đi lại khó khăn, thiếu phương tiện tra cứu thông tin phục vụ học tập.

“Một số học viên còn tâm lý ỷ lại, phụ huynh chưa thực sự quan tâm việc học của con em nên vẫn xảy ra tình trạng bỏ học giữa chừng, ảnh hưởng đến công tác duy trì sĩ số”, ông Phương chia sẻ.

Ngoài ra, một số học viên là cán bộ bán chuyên trách tại thôn, làng nên trong giai đoạn địa phương sắp xếp, bố trí việc làm, nhiều người không thể tiếp tục theo học để hoàn thành chương trình. Một khó khăn khác là kinh phí đào tạo nghề thường được giao chậm, ảnh hưởng đến quá trình triển khai các lớp học nghề tại cơ sở.

Theo ông Phương, năm học 2026-2027, Trung tâm dự kiến tuyển sinh khoảng 40 học viên nhưng chỉ tiêu được giao lên tới 150 nên rất khó hoàn thành. Đơn vị ước tính chỉ có thể tuyển được khoảng 70 học viên.

Tuy vậy, ông Phương cho hay, công tác tuyển sinh những năm gần đây đã có chuyển biến tích cực khi phụ huynh ngày càng quan tâm hơn đến việc học nghề của con em. Nhờ liên kết đào tạo trung cấp nghề, sau khi tốt nghiệp, nhiều học viên được hỗ trợ giới thiệu việc làm tại các doanh nghiệp với mức lương khoảng 7-8 triệu đồng/tháng cùng các chế độ, phụ cấp đi kèm.

Theo giaoducthoidai.vn


 (Emagazine) Đánh thức “mỏ vàng” văn hóa giữa đại ngàn Gia Lai

Nghệ nhân Gia Rai và Ba Na biểu diễn cồng chiêng tại ngày hội văn hóa Gia Lai
Không gian trình diễn văn hóa nghệ thuật dân gian của các dân tộc ở Gia Lai thu hút đông đảo du khách tham quan, trải nghiệm

Giữa không gian cồng chiêng, lễ hội truyền thống và những bản làng đậm đà bản sắc, Gia Lai đang từng bước đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng bằng chính “mỏ vàng” văn hóa bản địa của đại ngàn Tây Nguyên. Hành trình này vừa tạo sức hút với du khách, vừa mở ra cơ hội gìn giữ di sản, cải thiện sinh kế và đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với đời sống hiện đại.

Hút du khách bằng không gian văn hóa bản địa

Phía Tây Gia Lai sở hữu không gian thiên nhiên đặc trưng của đại ngàn Tây Nguyên với Biển Hồ, núi lửa Chư Đăng Ya, Vườn quốc gia Kon Ka Kinh - Vườn di sản ASEAN cùng không gian văn hóa cồng chiêng được UNESCO ghi danh là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” từ năm 2005.

Giữa núi rừng ấy, cộng đồng người Ba Na, Gia Rai, Hrê, Chăm Hroi… vẫn gìn giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống qua lễ hội, âm nhạc, nghề thủ công và nếp sinh hoạt cộng đồng. Đây cũng là nền tảng để Gia Lai từng bước khai thác du lịch cộng đồng theo hướng lấy bản sắc văn hóa bản địa làm sức hút.

Cuối tháng 4 vừa qua, hàng ngàn du khách trong và ngoài nước đã đổ về Quảng trường Đại Đoàn Kết, phường Pleiku để tham gia Ngày hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Gia Lai lần thứ I. Không gian phố núi những ngày ấy rộn ràng tiếng cồng chiêng, tiếng nhạc cụ truyền thống và những điệu dân ca vang vọng từ các buôn làng. Hơn 1.000 nghệ nhân, diễn viên quần chúng các dân tộc Gia Rai, Ba Na, Hrê, Chăm Hroi… đã phục dựng nhiều nghi lễ truyền thống như lễ bỏ mả, lễ mừng lúa mới, lễ cúng nước giọt, lễ mừng nhà rông… tạo nên bức tranh văn hóa đậm sắc màu Tây Nguyên.

Bên cạnh các nghi lễ dân gian là không gian giới thiệu nghề truyền thống, dệt thổ cẩm, đan lát, tạc tượng cùng nhiều món ăn mang hương vị núi rừng. Đoàn nghệ nhân Hrê ở xã An Vinh mang đến ngày hội các món cá niên nướng, rau dớn, nhái nướng, gà nướng… thu hút đông đảo người dân và du khách trải nghiệm.

Nghệ nhân Đinh Xuân Hải, xã An Vinh chia sẻ: “Tôi rất vui khi được đại diện người Hrê tham gia ngày hội. Các địa phương đều mang theo trang phục, nhạc cụ và nét văn hóa riêng để giới thiệu, quảng bá. Đây cũng là cách để gìn giữ và truyền lại cho thế hệ sau”.

Không gian trình diễn văn hóa dân gian cùng các hoạt động trải nghiệm đã để lại nhiều ấn tượng với du khách. Anh Nguyễn Vương Long đến từ Hải Phòng cho biết, đây là lần đầu tiên anh được hòa mình vào không gian văn hóa giàu bản sắc của các dân tộc Tây Nguyên, được giao lưu với người dân địa phương, xem biểu diễn cồng chiêng và tận mắt chứng kiến nhiều nghề truyền thống đặc sắc.

“Tôi cảm nhận rõ sự quan tâm của địa phương trong việc gìn giữ văn hóa của đồng bào. Hy vọng sẽ có thêm nhiều du khách đến Gia Lai để trải nghiệm không gian rất đặc biệt này”, anh Long bày tỏ.

Tìm hướng đánh thức du lịch cộng đồng

Từ lợi thế về cảnh quan tự nhiên, văn hóa bản địa và không gian sinh thái đặc trưng của đại ngàn Tây Nguyên, Gia Lai đang từng bước hình thành các mô hình du lịch cộng đồng gắn với trải nghiệm văn hóa và đời sống bản địa.

Nhiều điểm du lịch cộng đồng đã được địa phương định hướng xây dựng như làng K3 - Vĩnh Sơn với mô hình du lịch sinh thái gắn rừng, suối, thác; làng Kép (xã Ialy), làng Mơ Hra-Đap (xã Tơ Tung), làng Plei Ốp (phường Pleiku), làng Ia Nueng (xã Biển Hồ)… với các trải nghiệm văn hóa truyền thống, ẩm thực địa phương và sinh hoạt cộng đồng. Hướng đi được tỉnh đặt ra là nâng chất lượng dịch vụ, đa dạng sản phẩm trải nghiệm và tăng khả năng kết nối tour, tuyến.

Theo bà Đỗ Thị Diệu Hạnh, Giám đốc Sở VHTTDL Gia Lai, du lịch cộng đồng và du lịch trải nghiệm đang trở thành trọng tâm trong chiến lược phát triển sản phẩm mới ở khu vực phía Tây tỉnh.

Sự quan tâm của các doanh nghiệp lữ hành đối với Gia Lai cũng đang tăng lên. Nhiều đơn vị xúc tiến, kết nối du lịch đã phối hợp cùng Hiệp hội Du lịch Việt Nam tổ chức các chương trình quảng bá, đưa khách đến địa phương. Bên cạnh du lịch biển, xu hướng được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm hiện nay là du lịch cộng đồng gắn với trải nghiệm văn hóa bản địa.

TS Chu Mạnh Trinh, chuyên gia dự án phát triển du lịch cộng đồng cho rằng, du lịch cộng đồng thực chất là hành trình học tập và trao đổi văn hóa. Giá trị của loại hình này không chỉ nằm ở sản phẩm vật chất mà còn ở những câu chuyện, kinh nghiệm sống, làn điệu dân ca hay phong tục tập quán được người dân bản địa truyền lại cho du khách. Đây cũng là cơ hội để cộng đồng địa phương cải thiện sinh kế từ chính vốn văn hóa mình đang sở hữu.

Theo TS Chu Mạnh Trinh, để du lịch cộng đồng phát triển bền vững, Nhà nước cần đóng vai trò định hướng và kết nối, giúp bà con tiếp tục khai mở các giá trị văn hóa, cảnh quan và tri thức bản địa. Đồng thời, cần tạo điều kiện để người dân kết nối với trường học, các chương trình trải nghiệm và hoạt động nghiên cứu khoa học, qua đó mở rộng không gian học tập, trải nghiệm cho du khách và thế hệ trẻ. 

Theo baovanhoa.vn


 Mở đường tiếp cận tháp cổ bí ẩn trên tảng đá cao hơn 700m ít ai đặt chân tới

Tháp Hòn Chuông nằm trên một tảng đá, với độ cao hơn 700m so với mặt nước biển.
Ảnh: Bảo tàng Gia Lai

Nằm trên một tảng đá to, cao sừng sững, tháp Hòn Chuông ở xã Đề Gi, tỉnh Gia Lai một công trình còn nhiều bí ẩn chưa có lời giải.

Ngày 25/5, ông Nguyễn Trung Hiếu - Phó Chủ tịch UBND xã Đề Gi, tỉnh Gia Lai cho biết, đơn vị trúng thầu đang hoàn thiện phương án thiết kế để trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt triển khai dự án đường kết nối di tích tháp Hòn Chuông.

Theo ông Hiếu, một vấn đề vướng hiện nay đó là quá trình khảo sát thực tế cho thấy kinh phí thực hiện dự án có thể tăng đáng kể so với chủ trương đầu tư được phê duyệt trước đó. Do vậy, địa phương đang giao đơn vị tư vấn đánh giá, báo cáo cụ thể để mời các sở, ngành liên quan rà soát lại trước khi báo cáo UBND tỉnh.

Năm 2025, UBND tỉnh Gia Lai phê duyệt chủ trương đầu tư dự án đường kết nối di tích tháp Hòn Chuông với tổng vốn 125 tỷ đồng. Dự án do UBND xã Đề Gi làm chủ đầu tư, dự kiến hoàn thành năm 2027.

Theo chủ trương đầu tư, tuyến đường có chiều dài hơn 6km, mặt đường rộng 6,5m, kết cấu bê tông xi măng, bảo đảm cho ô tô lưu thông ổn định trong điều kiện địa hình đồi núi.

Tháp Hòn Chuông nằm trong quần thể Khu căn cứ di tích quốc gia núi Bà. Theo người dân địa phương, tên gọi Hòn Chuông bắt nguồn từ hình dáng khối đá lớn nhô lên trên đỉnh núi, nhìn từ xa giống chiếc chuông úp xuống. Tháp có chiều cao khoảng 7m, mỗi cạnh dài 8,5m, thân tháp hình vuông, vươn thẳng và thu dần lên đỉnh.

Nằm ở vị trí cao hơn 700m so với mực nước biển, hiện nay, không có dấu hiệu về đường dẫn lên tháp này. Để lên được tháp Hòn Chuông chủ yếu phải đi theo đường mòn, leo bộ xuyên rừng và vượt các đoạn đồi dốc liên tục trong nhiều giờ đồng hồ. Chính bởi sự hiểm trở nên cũng ít người đặt chân lên tới tháp.

Việc xác định công năng của tháp Hòn Chuông đến nay cũng là một bí ẩn. Một số giả thuyết cho rằng đây là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, đài quan sát quân sự hoặc ngọn hải đăng cổ dùng để đánh dấu cửa biển cho tàu thuyền.

Theo khảo sát của cơ quan chuyên môn, dưới nền đất tháp Hòn Chuông, vị trí xung quanh dưới chân của tảng đá, có rất nhiều mảnh gạch Chămpa, các mảnh ngói mũi lá, ngói hình sừng bò.

Dựa trên các hiện vật được tìm thấy, nhiều nhà nghiên cứu nhận định niên đại của tháp có thể vào khoảng thế kỷ XI-XIII.

Theo tienphong.vn


 Phường An Nhơn Bắc trao tặng nhiều phần quà ý nghĩa cho bà con làng Ghè

Tháp Hòn Chuông nằm trên một tảng đá, với độ cao hơn 700m so với mặt nước biển.

Phường An Nhơn Bắc vừa tổ chức đi thăm, trao tặng nhiều phần quà ý nghĩa cho bà con làng Ghè (xã Ia Dơk, tỉnh Gia Lai) - đơn vị kết nghĩa với phường.

Theo đó, phường An Nhơn Bắc đã hỗ trợ xây dựng 2 căn nhà tình nghĩa cho các hộ gia đình khó khăn về nhà ở với tổng kinh phí 120 triệu đồng (trị giá 60 triệu đồng/căn); trao tặng 40 phần quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và các hộ có hoàn cảnh khó khăn (mỗi phần trị giá 300 nghìn đồng) và trao 20 phần quà cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập ở làng Ghè (500 nghìn đồng/phần).

Tổng giá trị các phần quà là 142 triệu đồng, do phường An Nhơn Bắc kêu gọi sự ủng hộ của các nhà hảo tâm.

Đây là hoạt động thiết thực nhằm thắt chặt mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa 2 đơn vị kết nghĩa; đồng thời, thể hiện sự chung tay của các cấp, ngành và cộng đồng trách nhiệm của toàn xã hội trong việc chăm lo nâng cao đời sống cho bà con vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.

Theo baogialai.com.vn


 Truyền tải điện Gia Lai áp dụng cảnh báo quá tải qua SMS và email

Chú thích ảnh
Nhân viên ngành điện đi kiểm tra, vận hành an toàn luới điện. 

Ngày 25/5, ông Đặng Đức Lý,Trưởng Truyền tải điện Gia Lai, Công ty Truyền tải điện 3 cho biết, để đảm bảo cung cấp điện an toàn, liên tục, phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân; đặc biệt trong mùa nắng nóng năm nay (được dự báo là xuất hiện sớm, kéo dài và gay gắt hơn trung bình nhiều năm do chịu ảnh hưởng bởi sự biến động của hiện tượng El Nino), các đơn vị của ngành điện trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.

Ngành điện đã tổ chức phổ biến phương án khởi động đen hệ thống kết hợp diễn tập xử lý sự cố và kỹ năng thao tác cho lực lượng vận hành trạm biến áp. Hoạt động được triển khai nhằm nâng cao năng lực xử lý tình huống, tăng cường tính chủ động và bảo đảm vận hành an toàn, liên tục, ổn định hệ thống điện truyền tải.

Bên cạnh đó, ngành điện Gia Lai cũng đã duy trì kiểm tra thường xuyên, từ soi phát nhiệt, vệ sinh thiết bị, kiểm tra các điểm tiếp xúc đến rà soát những vị trí xung yếu trên đường dây, chủ động phát hiện nguy cơ từ sớm để xử lý kịp thời, không để phát sinh sự cố gây ảnh hưởng tới hệ thống. Truyền tải điện Gia Lai đã áp dụng giải pháp cảnh báo quá tải qua SMS và email. Khi các đường dây xuất hiện nguy cơ đầy tải, thông tin sẽ được gửi trực tiếp tới lực lượng vận hành để tổ chức kiểm tra, đánh giá và xử lý kịp thời.

Ngoài kiểm tra trực tiếp trên tuyến, các đơn vị tăng cường sử dụng ống nhòm, camera nhiệt và thiết bị bay không người lái (UAV) nhằm phát hiện sớm bất thường trên đường dây, thiết bị.

Trưởng Truyền tải điện Gia Lai, ông Đặng Đức Lý cho biết, để đảm bảo an toàn truyền tải điện trong mùa khô, ngành điện cũng luôn duy trì phối hợp với các địa phương mà đường dây điện đi qua để đảm bảo an toàn hành lang lưới điện, đảm bảo làm tốt phòng chống cháy, ngăn ngừa nguy cơ sự cố từ bên ngoài gây ra. Ngoài ra, bảo dưỡng kiểm tra đường dây, vệ sinh cách điện và kiểm tra soi phát nhiệt luôn được ngành điện thường xuyên thực hiện và ứng dụng các khoa học kỹ thuật công nghệ để đem lại hiệu quả cao hơn.

Trong mùa khô năm nay, Truyền tải điện Gia Lai đối mặt với áp lực lớn khi vừa phải vận hành an toàn, vừa phải truyền tải công suất liên tục cho hệ thống điện quốc gia. Thời tiết nắng nóng kéo dài khiến lưới điện thường xuyên vận hành trong trạng thái đầy tải, làm tăng cao nguy cơ phát nhiệt thiết bị và cháy hành lang tuyến. Dù đối mặt với nhiều thách thức hàng ngày, đơn vị vẫn nỗ lực giữ an toàn hệ thống, góp phần bảo đảm cung cấp điện ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội và an ninh năng lượng quốc gia.

Hiện Truyền tải điện Gia Lai đang quản lý hơn 1.300 km đường dây và 7 trạm biến áp, đóng vai trò then chốt trong việc kết nối các nguồn năng lượng tái tạo vào lưới điện quốc gia. 4 tháng đầu năm 2026, Sản lượng điện thương phẩm lưới điện 220kV, 500kV do Truyền tải điện Gia Lai quản lý vận hành đạt 471,756 triệu kWh. Trong số đó, sản lượng điện giao cho Công ty Điện lực Gia Lai qua lưới 110kV, cung cấp điện cho tỉnh Gia Lai phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội của địa phương là khoảng 454,741 triệu kWh. Đối với sản lượng truyền tải trên lưới điện 220kV và lưới điện 500kV do Truyền tải điện Gia Lai quản lý vận hành là khoảng 6.833,633 triệu kWh; trong đó sản lượng điện do giải tỏa công suất cho các nguồn năng lượng trên địa bàn lên lưới truyền tải quốc gia là khoảng 3.303,836 triệu kWh.

Theo baotintuc.vn


 Gia Lai xây dựng trung tâm thương mại hơn 511 tỷ đồng tại Phường Diên Hồng

Một góc tỉnh Gia Lai nhìn từ trên cao, nơi sắp triển khai dự án trung tâm thương mại 511 tỷ đồng.
Một góc tỉnh Gia Lai. Ảnh: Internet

Dự án có quy mô hơn 14.817m2 với tổng vốn đầu tư 511,5 tỷ đồng, dự kiến phục vụ khoảng 3.000 lượt khách mỗi ngày và hoàn thiện diện mạo đô thị tỉnh Gia Lai.

UBND tỉnh Gia Lai vừa chính thức phê duyệt phương án đấu giá quyền sử dụng đất để triển khai dự án Trung tâm thương mại tại số 27 Nguyễn Văn Cừ, Phường Diên Hồng. Với tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 511 tỷ đồng, công trình được kỳ vọng sẽ trở thành tổ hợp thương mại - dịch vụ hiện đại, đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật tại khu vực trung tâm tỉnh.

Thông số kỹ thuật và quy hoạch chi tiết

Dự án được xây dựng trên khu đất có diện tích khoảng 14.817m2. Theo quy hoạch chi tiết, mật độ xây dựng tối đa của công trình là 53,1% với hệ số sử dụng đất (FAR) tối đa đạt 1,95 lần. Tổng diện tích sàn xây dựng dự kiến khoảng 33.057,7m2, trong đó phần diện tích dành cho sàn kinh doanh chiếm khoảng 28.904,5m2.

Về quy mô kiến trúc, trung tâm thương mại sẽ có chiều cao từ 2 đến 5 tầng, được định hướng phát triển theo tiêu chuẩn trung tâm thương mại hạng III. Tổng mức đầu tư cho dự án ước tính khoảng 511,5 tỷ đồng. Thời gian triển khai dự kiến kéo dài trong vòng 24 tháng kể từ ngày nhà đầu tư nhận quyết định giao đất hoặc thuê đất từ cơ quan có thẩm quyền.

Tiến độ thực hiện và định hướng phát triển

Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Gia Lai được giao nhiệm vụ chủ trì tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất trong quý II/2026. Song song đó, đơn vị này sẽ phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường để hoàn thiện các thủ tục công bố kế hoạch và danh mục khu đất theo đúng quy định của Luật Đất đai năm 2024.

Tổ hợp thương mại này được thiết kế đa năng với hệ thống tiện ích phong phú, bao gồm:

Khu siêu thị và trung tâm mua sắm hiện đại.
Khu ẩm thực, nhà hàng và rạp chiếu phim.
Khu vui chơi giải trí và các dịch vụ hỗ trợ.
Hệ thống kho vận, khu lưu trữ lạnh và văn phòng điều hành.

Tác động kinh tế và bối cảnh địa phương

Khi đi vào vận hành, dự án dự kiến thu hút khoảng 3.000 lượt khách tham quan và mua sắm mỗi ngày. Đây không chỉ là không gian giải trí mới cho cư dân mà còn là động lực thúc đẩy ngành thương mại - dịch vụ của địa phương tăng trưởng. UBND tỉnh Gia Lai yêu cầu nhà đầu tư trúng đấu giá phải rà soát kỹ lưỡng các phương án đấu nối hạ tầng và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về khoáng sản nếu có phát sinh trong quá trình thi công.

Đáng chú ý, sau các đợt sắp xếp địa giới hành chính, Gia Lai hiện là tỉnh có diện tích lớn thứ hai Việt Nam (sau Lâm Đồng) với diện tích gần 22.000km2. Việc đầu tư hạ tầng thương mại quy mô lớn tại Phường Diên Hồng được xem là bước đi chiến lược nhằm tương xứng với vị thế và tiềm năng phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới.

Lưu ý: Thông tin dự án có thể được điều chỉnh theo quy hoạch chi tiết tại thời điểm triển khai. Nhà đầu tư và người dân cần theo dõi các thông báo chính thức từ cơ quan quản lý.

Theo baolamdong.vn


 Những câu hỏi từ “người trong cuộc”

Hoài Ân chú trọng rà soát, quản lý chặt chẽ các di tích lịch sử - văn hóa

“Trước hết, về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực tại địa phương còn một số hạn chế nhất định. Một số vị trí như công nghệ thông tin, nông nghiệp, giáo dục, y tế… không có chuyên môn đảm nhiệm, trong khi đó khối công việc lớn, với nhiều vấn đề mới, phức tạp nảy sinh, nhất là khi nhiều nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền mạnh hơn từ cấp trên khiến nhiều cán bộ, công chức bị áp lực tâm lý, hiệu quả xử lý công việc không như mong muốn”.

​Bên cạnh những thuận lợi, lãnh đạo xã Hoài Ân (Gia Lai) đã chia sẻ với phóng viên Văn Hóa sau gần một năm vận hành mô hình chính quyền hai cấp.

Vận dụng nhiều cách làm

So với nhiều xã, phường khác trên địa bàn Gia Lai, Hoài Ân là một trong những địa phương còn tên gọi sau sáp nhập, dựa trên tên gọi của huyện Hoài Ân cũ trước đó. Sau sáp nhập, để chính quyền mới vận hành trơn tru, thông suốt, Hoài Ân đã có nhiều cách làm sáng tạo để lĩnh vực văn hóa - thông tin (VHTT) gần gũi dân, sát dân.

Bà Đỗ Thị Thu Hằng, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội, UBND xã Hoài Ân thông tin, một trong điểm sáng trong thời gian qua là địa phương đã đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, như sử dụng mạng xã hội, nhóm Zalo cộng đồng, cổng thông tin điện tử để truyền tải nhanh chóng các chủ trương, chính sách đến người dân.

Đó là chưa kể, Hoài Ân đã chủ động xây dựng mô hình “Gia đình số”, “Tổ công nghệ số cộng đồng”, từng bước hướng dẫn người dân tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, nâng cao kỹ năng số, góp phần hình thành thói quen sử dụng công nghệ trong đời sống. Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể, tuyên truyền viên cơ sở và người có uy tín trong cộng đồng trong công tác tuyên truyền, vận động, tạo sự lan tỏa sâu rộng và hiệu quả bền vững.

Vận dụng nhiều cách làm sáng tạo cho nên công tác quản lý nhà nước về VHTT ở Hoài Ân ngày càng được tăng cường, đi vào nề nếp. Địa phương đã chú trọng rà soát, quản lý chặt chẽ các di tích lịch sử, văn hóa; đồng thời triển khai các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích gắn với giáo dục truyền thống và phát triển du lịch cộng đồng. Ngoài ra, việc xây dựng gia đình văn hóa, thôn văn hóa có nhiều chuyển biến rõ nét; các thiết chế văn hóa cơ sở như nhà văn hóa, khu thể thao được đầu tư, nâng cấp và khai thác hiệu quả. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi, thu hút đông đảo nhân dân tham gia, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh…

UBND xã Hoài Ân khẳng định, những kết quả đạt được trong lĩnh vực VHTT đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tạo sự đồng thuận xã hội.

Còn đó những khó khăn

Việc triển khai mô hình chính quyền hai cấp thời gian qua đã mang lại nhiều hiệu quả tích cực, đặc biệt là nâng cao tính chủ động, linh hoạt của chính quyền cơ sở và rút ngắn khoảng cách phục vụ nhân dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, địa phương cũng gặp phải một số tồn tại, khó khăn nhất định. Và ở lĩnh vực VHTT cũng chịu sự tác động này.

NNƯT Nguyễn Phú thuộc Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao (VHTT&TT) xã Tuy Phước chia sẻ: Văn hóa là một bộ phận quan trọng của tư tưởng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Việc thực hiện chủ trương vận hành chính quyền địa phương hai cấp sau sáp nhập có những bước thuận lợi và cũng có những khó khăn nhất định.

Đứng ở góc độ người có kinh nghiệm lâu nay hoạt động trong lĩnh vực VHTT ở địa phương, NNƯT Nguyễn Phú đặt câu hỏi: “Sau khi sáp nhập các Trung tâm VHTT&TT ở các địa phương được tổ chức, bố trí, sắp xếp và hình thức hoạt động khác nhau. Vậy thì mô hình nào là phù hợp; mỗi xã một Trung tâm dịch vụ công ích hay một Trung tâm sinh hoạt động liên xã, phường? Và việc tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao chỉ tập trung tại trung tâm mới hay sẽ được bố trí đều đến các xã, phường để phù hợp với không gian phát triển mới”?

Đó là chưa kể, sau khi sáp nhập thì hầu hết các đoàn tuồng không chuyên và các CLB bài chòi dân gian ở Gia Lai gặp không ít khó khăn như phạm vi hoạt động thu hẹp, tổ chức truyền dạy, tập huấn, sinh hoạt hằng tháng, trình diễn phục vụ nhân dân giảm hẳn; hầu hết tên gọi các CLB không còn phù hợp cần được tái thành lập, điều chỉnh và củng cố đi vào hoạt động.

Theo NNƯT Nguyễn Phú, về chế độ ưu đãi cho các NNND, NNƯT đã được Nhà nước quan tâm kịp thời, nhưng đối với các đoàn tuồng không chuyên và các CLB bài chòi rất cần có những đề án trước mắt và lâu dài. Cùng với đó, là các cơ chế chính sách ưu đãi để có thể ổn định đi vào hoạt động và phát triển, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống.

Chia sẻ về hướng hỗ trợ các đoàn nghệ thuật không chuyên và nghệ nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, ông Lâm Hải Giang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai chia sẻ: Tỉnh nhận thấy các đoàn nghệ thuật truyền thống đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế, mặc dù nhận được sự yêu mến của nhân dân. Do đó, việc hỗ trợ là cần thiết để bảo tồn văn hóa. Theo ông Giang, trước đây, tỉnh Bình Định cũ đã có quy định hỗ trợ này. Trong thời gian tới, khi đã sáp nhập tỉnh (Bình Định và Gia Lai), cơ quan chức năng sẽ rà soát để ban hành một chính sách hỗ trợ chung, thống nhất cho toàn tỉnh mới để các nghệ nhân có thể yên tâm tiếp tục cống hiến.

“Tỉnh đã thành lập các tổ công tác và cử cán bộ từ các Sở, ngành về hỗ trợ trực tiếp cho xã cho đến khi công việc vận hành trơn tru mới rút về”, ông Giang thông tin thêm. Một số xã đang thiếu người do cán bộ nghỉ chế độ sau sáp nhập, tỉnh sẵn sàng điều động cán bộ từ “ngân hàng cán bộ” về hỗ trợ, kể cả các vị trí Phó Chủ tịch UBND xã nếu địa phương có nhu cầu”, ông Giang cho biết.

Vượt khó để hoạt động hiệu quả

Để mô hình chính quyền hai cấp hoạt động hiệu quả, ông Hoàng Anh Ngọc, Chủ tịch UBND xã Hoài Ân chia sẻ: “Trước hết, về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực tại địa phương còn một số hạn chế nhất định. Hiện xã có ba phòng chuyên môn và Trung tâm Phục vụ hành chính công với 32 biên chế có mặt/43 biên chế được giao. Một số vị trí như công nghệ thông tin, nông nghiệp, giáo dục, y tế không có chuyên môn đảm nhiệm, trong khi đó khối công việc lớn, với nhiều vấn đề mới, phức tạp nảy sinh, nhất là khi nhiều nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền mạnh hơn từ cấp trên khiến nhiều cán bộ, công chức bị áp lực tâm lý, hiệu quả xử lý công việc không như mong muốn. Đặc biệt là các lĩnh vực liên quan đến chuyển đổi số, cải cách hành chính và quản lý đa ngành.

Bên cạnh đó, chính sách về cải cách tiền lương gắn với vị trí việc làm chậm được thực thi, ảnh hưởng phần nào đến tinh thần cống hiến của cán bộ, công chức. Do sự thay đổi về địa giới hành chính vị trí việc làm và sự dịch chuyển không gian sống, sinh hoạt khiến nhiều cán bộ gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý, cân bằng giữa việc cơ quan và công việc gia đình”.

Cũng theo ông Ngọc, việc thực hiện phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền vẫn còn vướng mắc. Một số văn bản quy phạm pháp luật, thủ tục hành chính chưa được điều chỉnh kịp thời, gây khó khăn cho cơ sở trong quá trình triển khai; Việc hướng dẫn thực hiện ở một số lĩnh vực chưa kịp thời, đồng bộ. Trong khi đó về điều kiện cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật, nhất là hạ tầng công nghệ thông tin ở Hoài Ân vẫn còn hạn chế.

“Trang thiết bị phục vụ công tác chuyển đổi số, giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu; tín hiệu đường truyền trực tiếp đôi lúc chưa ổn định, ảnh hưởng đến chất lượng các hội nghị trực tuyến từ Trung ương, tỉnh đến địa phương và phục vụ người dân, doanh nghiệp”, ông Ngọc chia sẻ. 

Theo baovanhoa.vn


 Gia Lai: Ban Trị sự GHPGVN tỉnh tổ chức Đại lễ Phật đản Phật lịch 2570 tại chùa Tỉnh Hội

Trang nghiêm Đại lễ Phật đản Phật lịch 2570 tại chùa Tỉnh Hội
Trang nghiêm Đại lễ Phật đản Phật lịch 2570 tại chùa Tỉnh Hội

Tối mùng 8-4-Bính Ngọ (24-5-2026), tại Lễ đài chính của Ban Trị sự GHPGVN tỉnh (chùa Tỉnh Hội, P.Quy Nhơn), diễn ra Đại lễ Phật đản do Ban Trị sự tổ chức.

Quang lâm chứng minh và tham dự có Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Giác, Thành viên Hội đồng Chứng minh, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Gia Lai; chư tôn giáo phẩm Chứng minh Ban Trị sự, Thường trực Ban Trị sự tỉnh, Tăng Ni, Phật tử.

Lãnh đạo chính quyền có bà Hồ Thị Kim Thu, Phó Chủ tịch UBMTTQVN tỉnh Gia Lai; ông Nguyễn Minh Trưởng, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh; cùng lãnh đạo sở, ban, ngành và phường sở tại.

Trong không khí Kính mừng Đại lễ Phật đản, Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Giác đã tuyên đọc Thông điệp Đại lễ Phật đản Phật lịch 2570 của Đức Pháp chủ GHPGVN.

Thượng tọa Thích Tâm Mãn, Ủy viên Hội đồng Trị, Trưởng ban Ban Trị sự GHPGVN tỉnh đọc Diễn văn Đại lễ Phật đản Phật lịch 2570 của Trưởng lão Hòa thượng Chủ tịch Hội đồng Trị sự.

Dịp này, Ban Tổ chức đón nhận các lẵng hoa tươi thắm dâng kính mừng Phật đản từ Ủy ban MTTQVN tỉnh; Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh; Công an tỉnh và phường sở tại.

Phát biểu tại buổi lễ, bà Hồ Thị Kim Thu, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN tỉnh Gia Lai có lời chúc tốt đẹp nhất đến chư tôn giáo phẩm, cùng toàn thể Tăng Ni, đồng bào Phật tử trong tỉnh đón mùa Phật đản nhiều sức khỏe, an lành và chúc Đại lễ thành tựu viên mãn.

Dịp này, bà Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN tỉnh thông tin một số thành tựu tỉnh nhà đạt được trong thời gian qua; đánh giá cao giá trị nhân văn của Phật giáo, sự đồng hành của Phật giáo đối với dân tộc.

Trong không khí thiêng liêng, chư tôn đức Tăng Ni cùng đại chúng cử hành khóa lễ Kính mừng Phật đản và cầu nguyện quốc thái dân an, thế giới hòa bình. Sau đó, chư tôn đức Tăng Ni, chính quyền, cùng đại chúng lần lược hướng đến tôn tượng Đức Phật sơ sanh thành kính thực hiện nghi thức Tắm Phật.

Buổi lễ kết thúc sau phần cảm tạ của Thượng tọa Thích Đồng Thành, Phó Trưởng ban thường trực Ban Trị sự GHPGVN tỉnh.

Trước đó, Ban Trị sự GHPGVN tỉnh đã đến viếng Nghĩa trang Liệt sĩ tại P.Quy Nhơn Nam, cầu siêu chư anh hùng, liệt sĩ nhân Đại lễ Phật đản Phật lịch 2570 - Dương lịch 2026.

Theo giacngo.vn


 Cộng đồng doanh nghiệp tích cực tham gia công tác an sinh xã hội

Công ty CP Nafoods Gia Lai tạo việc làm ổn định cho hơn 600 lao động. Ảnh: ĐVCC

Những năm qua, cộng đồng doanh nghiệp tỉnh Gia Lai không chỉ đóng vai trò là động lực phát triển kinh tế mà còn trở thành lực lượng tham gia tích cực trong các hoạt động an sinh xã hội.

Giải quyết việc làm, chăm lo đời sống người lao động

Hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến nông sản với sản phẩm chủ lực là chanh dây, Công ty CP Nafoods Gia Lai (phường An Phú) luôn xác định mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh gắn liền với trách nhiệm xã hội, phát triển bền vững và đồng hành cùng địa phương. Công ty luôn chú trọng tạo sinh kế ổn định cho công nhân và người dân địa phương, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.

Theo Giám đốc Hồ Hải Quân, Công ty đang tạo việc làm trực tiếp cho hơn 600 lao động tại chỗ (khoảng 80% là người dân tộc thiểu số).

Từ năm 2025 đến nay, Công ty còn đóng góp 525 triệu đồng cho các hoạt động từ thiện, an sinh xã hội. Chị Võ Thị Kim Hồng (tổ 4, phường An Phú) chia sẻ: “Tôi gắn bó với Công ty đã 4 năm. Giữ vị trí quản lý nhân sự, tôi không chỉ có thu nhập ổn định từ lương mà còn được chi trả các chế độ đi kèm như: thưởng khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đóng BHXH và các chế độ khác theo Luật Lao động”.

Tại phường Diên Hồng, Công ty CP Công trình đô thị Gia Lai đang tạo việc làm ổn định cho hơn 500 lao động địa phương với thu nhập bình quân từ 10-12 triệu đồng/người/tháng.

Ông Lê Bá Quốc Thắng - Phó Giám đốc Thường trực Công ty - cho biết: “Bên cạnh chi trả tiền lương, Công ty luôn duy trì đầy đủ các chế độ về bảo hiểm, bảo hộ lao động, thăm hỏi, hỗ trợ công nhân khó khăn và đóng góp cho các chương trình xây nhà tình nghĩa, trao quà cứu trợ, chăm lo cho người yếu thế…”.

Hoạt động trong lĩnh vực khai thác vật liệu xây dựng, kinh doanh xăng dầu, khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ ăn uống, giải khát, Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Thành Được (phường Quy Nhơn Tây) đang tạo việc làm cho 30 lao động với mức lương từ 9-12 triệu đồng/người/tháng; mỗi năm đóng góp cho công tác an sinh xã hội khoảng 200-300 triệu đồng.

Giám đốc Công ty Lê Thành Được khẳng định: Công ty luôn xác định sản xuất kinh doanh hiệu quả phải gắn với trách nhiệm xã hội. Vì vậy, bên cạnh tạo việc làm ổn định cho lao động địa phương, việc đóng góp cho các hoạt động an sinh xã hội cũng là nhiệm vụ quan trọng.

Tích cực tham gia công tác an sinh xã hội

Giám đốc Công ty Thái Xuân Biên cho biết: Bên cạnh tạo việc làm ổn định cho 160 lao động với mức lương từ 8-12 triệu đồng/người/tháng, mỗi năm, Công ty đóng góp từ 200-300 triệu đồng cho hoạt động cứu trợ, hỗ trợ làm nhà, sinh kế và tặng quà cho người nghèo, hộ yếu thế…

Bà Nguyễn Thị Sen - Chủ tịch Hiệp hội DN tỉnh - nhấn mạnh: Tuy phải đối mặt với nhiều khó khăn do biến động kinh tế, giá nguyên vật liệu tăng cao và tác động kéo dài của dịch bệnh, song cộng đồng DN trong tỉnh vẫn nỗ lực duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động và tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội.

Hiệp hội DN tỉnh hiện có khoảng 500 thành viên tích cực tham gia nhiều chương trình, hoạt động trong công tác thiện nguyện, cứu trợ. Từ năm 2025 đến nay, ngoài tự tổ chức các chương trình an sinh xã hội riêng, các DN còn đóng góp về Hiệp hội để hỗ trợ người dân vùng thiên tai, xây dựng nhà tình nghĩa hay chăm lo cho công nhân có hoàn cảnh khó khăn với trị giá gần 2 tỷ đồng.

Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Siu Trung khẳng định: Cộng đồng DN trong tỉnh không chỉ khẳng định vai trò trung tâm trong giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương mà còn là nhân tố quyết định trong tham gia các hoạt động từ thiện, an sinh xã hội của tỉnh.

Điều đó được khẳng định qua tỷ lệ nguồn lực đóng góp của các DN đối với Quỹ Vì người nghèo, Quỹ cứu trợ hằng năm chiếm hơn 70% (không tính nguồn hỗ trợ của Trung ương).

Qua đó, góp phần cùng tỉnh thực hiện tốt các chủ trương về giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội, đặc biệt là giúp đỡ các hoàn cảnh yếu thế vượt qua khó khăn, tạo động lực vươn lên trong cuộc sống.

Theo baogialai.com.vn


 Đi bộ đội và học đại học có được tính thời gian công tác?

Ông Nguyễn Tăng Sanh (Gia Lai) sinh năm 1964, nhập ngũ tháng 8/1983, xuất ngũ tháng 8/1986. Tháng 9/1986-9/1991 là sinh viên trường đại học. Tháng 8/1992-01/2014, ông công tác tại doanh nghiệp nhà nước. Từ tháng 01/2014 ông làm công chức tại Sở. Ngày 01/8/2025, ông Sanh nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP.

Ông Sanh chưa nhận trợ cấp xuất ngũ và trợ cấp thôi việc. Tháng 8/1992-3/1996, công ty không đóng BHXH cho ông. Thời gian đóng BHXH liên tục từ tháng 4/1996 đến tháng 7/2025.

Ông Sanh đề nghị cơ quan chức năng hướng dẫn cộng nối thời gian công tác cho ông tại hai giai đoạn: thời gian trong quân đội và thời gian học đại học.

Về vấn đề này, Bảo hiểm xã hội tỉnh Gia Lai trả lời như sau:

Thời gian công tác trong quân đội (8/1983-8/1986)

Điều kiện cộng nối thời gian công tác trong quân đội được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP ngày 25/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH. 

"Điều 34. Tính thời gian công tác trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 để hưởng bảo hiểm xã hội

2. Người lao động có thời gian công tác là quân nhân, công an nhân dân đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc trước ngày 15 tháng 12 năm 1993, sau đó làm việc có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (bao gồm cả người làm việc tại y tế xã, phường, thị trấn, giáo viên mầm non hoặc người giữ các chức danh ở xã, phường, thị trấn trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 đã được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội) và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động thì thời gian công tác thực tế trong quân đội, công an nhân dân trước đó được cộng với thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội sau này để tính hưởng BHXH", trừ trường hợp đã hưởng chế độ trợ cấp theo quy định tại điểm a, b, c, d, đ, e, g khoản này.

Hồ sơ đề nghị cộng nối thời gian công tác trong quân đội trước ngày 01/01/1995 (chưa nhận trợ cấp một lần) vào BHXH, hiện tại bao gồm: 

- Tờ khai điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT - Mẫu TK1- TS ban hành kèm theo Quyết định số 366/BHXH ngày 29/04/2026 của BHXH Việt Nam; 

- Quyết định phục viên, xuất ngũ hoặc thôi việc; 

- Giấy xác nhận chưa hưởng chế độ trợ cấp theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ gồm: Quyết định số 47/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002; Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08/11/2005; Quyết định số 92/2005/QĐ-TTg ngày 29/4/2005; Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 02/10/2008; Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 06/5/2010; và Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011.

Sau khi hoàn thiện hồ sơ theo hướng dẫn trên, ông Nguyễn Tăng Sanh liên hệ BHXH tỉnh Gia Lai kê khai thông tin và nộp hồ sơ để được xem xét giải quyết việc cộng nối thời gian công tác trong quân đội tính hưởng BHXH theo quy định.

Thời gian là sinh viên tại trường đại học (9/1986-9/1991)

Theo quy định tại tiết a điểm 7Mục II Thông tư số 13/NV ngày 04/9/1972 của Bộ Nội vụ hướng dẫn và quy định cụ thể về việc tính thời gian công tác của công nhân, viên chức Nhà nước:

"a. Thời gian công nhân, viên chức được cơ quan, xí nghiệp cử đi học các lớp nghiệp vụ, chính trị, văn hoá, đi học các trường chuyên nghiệp sơ cấp, trung học, đại học trong nước hay nước ngoài đều được tính là thời gian công tác liên tục (nếu vẫn liên tục công tác). Nếu công nhân, viên chức tự ý xin thôi việc để đi học (không được cơ quan cử đi) thì thời gian đi học không được tính là thời gian công tác, còn thời gian trước đó được tính là thời gian công tác nói chung.

b. Thời gian học sinh và sinh viên đi học ở các trường chuyên nghiệp sơ cấp, trung học, đại học… trước khi là công nhân, viên chức không được tính là thời gian công tác, thời gian công tác chỉ được tính từ khi bắt đầu vào làm việc ở cơ quan, xí nghiệp Nhà nước".

Đối chiếu với quy định trên, trường hợp của ông Nguyễn Tăng Sanh trước khi đi học, ông Sanh không phải là công nhân, viên chức Nhà nước cũng không thuộc đối tượng được cơ quan, xí nghiệp cử đi học nên thời gian đi học của ông Sanh không được tính là thời gian công tác liên tục để tính hưởng BHXH.

Theo baochinhphu.vn


 Phát triển nhân lực cấp dưỡng cho hệ thống trường nội trú Gia Lai

Tại 7 xã biên giới của tỉnh Gia Lai hiện có 9.419 học sinh. Ảnh: Đức Thụy

Tỉnh Gia Lai đang gấp rút đào tạo đội ngũ cấp dưỡng chuyên nghiệp để đáp ứng vận hành hệ thống Trường PTDT nội trú liên cấp vùng biên giới và nâng cao chất lượng nuôi dưỡng học sinh, góp phần phát triển giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số bền vững.

Trong tiến trình triển khai hệ thống Trường Phổ thông Dân tộc nội trú (PTDTNT) liên cấp giai đoạn 2026 - 2027, tỉnh Gia Lai đang đứng trước yêu cầu cấp thiết về xây dựng đội ngũ nhân lực phục vụ công tác nuôi dưỡng học sinh nội trú tại 7 xã biên giới gồm Ia Dom, Ia Nan, Ia Pnôn, Ia O, Ia Chía, Ia Mơ và Ia Púch.

Trong điều kiện đặc thù của các xã vùng sâu, vùng xa, nơi phần lớn học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số, công tác nuôi dưỡng học sinh nội trú giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Một bữa ăn đủ dinh dưỡng, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm không chỉ góp phần nâng cao thể trạng, cải thiện sức khỏe học đường mà còn trực tiếp tác động đến chất lượng học tập, tỷ lệ chuyên cần và sự phát triển toàn diện của học sinh. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cấp dưỡng có chuyên môn, kỹ năng và tinh thần trách nhiệm cao phải được xác định là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chiến lược phát triển hệ thống trường PTDTNT liên cấp của tỉnh.

Thực trạng nguồn nhân lực và yêu cầu vận hành hệ thống bếp ăn nội trú

Theo khảo sát của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai, tại 7 xã biên giới hiện có khoảng 9.419 học sinh, trong đó học sinh dân tộc thiểu số chiếm khoảng 54,65%. Đây là khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, khoảng cách địa lý xa trung tâm, hạ tầng giao thông chưa đồng bộ, khiến nhu cầu học tập và sinh hoạt nội trú ngày càng gia tăng.

Trước yêu cầu thực tiễn đó, Nhà nước đã đầu tư xây dựng 7 trường PTDTNT liên cấp với tổng kinh phí khoảng 1.516 tỷ đồng, quy mô 212 phòng học, đáp ứng nhu cầu học tập cho hơn 7.000 học sinh. Các công trình được đầu tư tương đối đồng bộ với hệ thống lớp học, ký túc xá, nhà ăn, bếp ăn và các hạng mục phụ trợ. Đây là chủ trương lớn, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực biên giới.

Tuy nhiên, bên cạnh sự đầu tư về cơ sở vật chất, bài toán nhân lực phục vụ công tác nuôi dưỡng lại đang bộc lộ nhiều bất cập. Hiện nay, phần lớn các cơ sở giáo dục trên địa bàn vẫn hoạt động theo mô hình bán trú hoặc nội trú chưa hoàn chỉnh. Định mức nhân sự cấp dưỡng chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Trong khi một bếp ăn phục vụ từ 200-400 học sinh cần tối thiểu từ 3-5 nhân viên chuyên trách thì nhiều trường hiện chỉ bố trí được từ 1-2 lao động hợp đồng thời vụ.

Đáng chú ý, khoảng 80% lực lượng cấp dưỡng là lao động tại chỗ, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tế, chưa qua đào tạo bài bản. Chỉ khoảng 25% có chứng chỉ nghề hoặc được bồi dưỡng chuyên môn. Điều này dẫn đến nhiều hạn chế trong tổ chức bếp ăn tập thể như xây dựng khẩu phần dinh dưỡng, chế biến suất ăn số lượng lớn, kiểm soát chi phí, thực hiện quy trình bếp ăn một chiều, kiểm thực ba bước, lưu mẫu thức ăn và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Không ít cơ sở còn thiếu đồng bộ về thiết bị, khu sơ chế và chế biến chưa tách biệt, hệ thống lưu trữ thực phẩm, xử lý nước thải chưa đạt chuẩn. Những bất cập này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành mà còn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn thực phẩm trong môi trường học đường tập thể.

Có thể thấy, khó khăn hiện nay không đơn thuần là thiếu nhân lực, mà là thiếu đội ngũ cấp dưỡng được đào tạo đúng chuẩn, có kỹ năng nghề nghiệp và khả năng thích ứng với điều kiện đặc thù vùng biên giới. Đây là “điểm nghẽn” cần được tháo gỡ nếu muốn hệ thống trường PTDTNT liên cấp vận hành hiệu quả, ổn định và bền vững.

Đào tạo nhân lực cấp dưỡng - giải pháp căn cơ, lâu dài

Từ thực tiễn nêu trên, việc phát triển nguồn nhân lực cấp dưỡng cần được triển khai theo hướng bài bản, đồng bộ, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng thực tế.

Trước hết, cần đổi mới mô hình đào tạo theo hướng linh hoạt, thực hành là trọng tâm. Đối tượng tuyển sinh chủ yếu là lao động địa phương, trình độ học vấn không đồng đều nên chương trình đào tạo phải đơn giản, dễ tiếp cận, tăng cường phương pháp “cầm tay chỉ việc”, lấy thực tiễn vận hành bếp ăn làm môi trường học tập chính. Tỷ lệ thực hành cần chiếm trên 70% thời lượng khóa học, tập trung vào kỹ năng chế biến suất ăn tập thể, bảo đảm dinh dưỡng học đường, vệ sinh an toàn thực phẩm và xử lý tình huống thực tế trong môi trường nội trú.

Đặc biệt, mô hình đào tạo tại chỗ ngay trong các bếp ăn trường học cần được ưu tiên triển khai. Đây là cách làm phù hợp với điều kiện vùng biên giới, giúp học viên nhanh chóng hình thành kỹ năng nghề, giảm chi phí đào tạo và tăng khả năng thích nghi sau tuyển dụng. Việc lồng ghép sử dụng nguyên liệu tại địa phương, kết hợp yếu tố ẩm thực truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số cũng góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn và tính phù hợp văn hóa trong môi trường nội trú.

Cùng với đào tạo, việc chuẩn hóa đội ngũ cấp dưỡng là yêu cầu bắt buộc. Tỉnh cần xây dựng bộ tiêu chuẩn năng lực nghề đối với nhân viên cấp dưỡng trường học, trong đó tập trung vào ba nhóm năng lực cốt lõi: kỹ năng chế biến và xây dựng thực đơn dinh dưỡng; thực hành an toàn vệ sinh thực phẩm; kỹ năng tổ chức và vận hành bếp ăn tập thể. Việc chuẩn hóa không chỉ nhằm nâng cao chất lượng phục vụ mà còn góp phần xây dựng môi trường học đường an toàn, chuyên nghiệp.

Bên cạnh yếu tố con người, đầu tư cơ sở vật chất bếp ăn phải được thực hiện đồng bộ. Các khu bếp cần được thiết kế theo nguyên tắc một chiều, phân tách rõ khu sơ chế, chế biến, chia suất và lưu trữ thực phẩm; đồng thời trang bị đầy đủ thiết bị bảo quản, chế biến hiện đại, phù hợp quy mô phục vụ. Đây là điều kiện quan trọng để phát huy hiệu quả đào tạo và nâng cao năng suất lao động.

Gắn đào tạo với tạo việc làm và ổn định sinh kế tại chỗ

Một trong những yêu cầu có ý nghĩa chiến lược là phải gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm tại địa phương. Thực tế cho thấy, nếu không có cơ chế tuyển dụng ổn định, lao động sau đào tạo rất dễ dịch chuyển hoặc bỏ nghề, gây lãng phí nguồn lực.

Do đó, cần triển khai mô hình “đào tạo gắn với địa chỉ sử dụng”, ưu tiên tuyển dụng học viên sau đào tạo vào làm việc trực tiếp tại các trường trên địa bàn. Đây không chỉ là giải pháp bảo đảm nhân lực vận hành hệ thống trường nội trú mà còn góp phần tạo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân vùng biên giới, nhất là lao động nữ và đồng bào dân tộc thiểu số.

Cùng với đó, các chính sách đãi ngộ cần được quan tâm đúng mức. Việc bảo đảm mức thu nhập phù hợp, chế độ bảo hiểm, hỗ trợ sinh hoạt và môi trường làm việc ổn định sẽ là yếu tố quan trọng để giữ chân người lao động. Trong điều kiện vùng sâu, vùng xa, sự quan tâm của chính quyền và ngành giáo dục đối với đời sống đội ngũ cấp dưỡng không chỉ mang ý nghĩa động viên mà còn thể hiện trách nhiệm trong xây dựng hệ thống giáo dục phát triển bền vững.

Chủ động chuẩn bị cho giai đoạn vận hành từ năm học 2026 - 2027

Theo lộ trình dự kiến, từ tháng 6-2026, Gia Lai sẽ triển khai các khóa đào tạo sơ cấp nghề cấp dưỡng theo hình thức “nước rút”, ưu tiên huấn luyện thực địa tại các bếp ăn hiện hữu. Mục tiêu là hình thành đội ngũ nhân lực đủ khả năng vận hành ngay khi các trường PTDTNT liên cấp chính thức đi vào hoạt động trong năm học 2026 - 2027.

Trong giai đoạn đầu vận hành, phương châm “vừa làm, vừa hoàn thiện” cần được áp dụng linh hoạt, có sự hướng dẫn, giám sát thường xuyên từ cơ quan chuyên môn nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao kỹ năng thực tế cho đội ngũ cấp dưỡng. Đồng thời, công tác bồi dưỡng định kỳ về dinh dưỡng học đường, vệ sinh an toàn thực phẩm và kỹ năng quản lý bếp ăn cần được duy trì thường xuyên để từng bước chuẩn hóa hoạt động nuôi dưỡng trong toàn hệ thống.

Phát triển nguồn nhân lực cấp dưỡng cho các trường PTDTNT liên cấp vùng biên giới không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn đơn thuần mà còn là yêu cầu mang tính chính trị, xã hội sâu sắc. Đây là giải pháp trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, chăm lo đời sống học sinh dân tộc thiểu số, củng cố niềm tin của nhân dân đối với chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ở khu vực biên giới.

Muốn hệ thống trường nội trú phát huy hiệu quả lâu dài, nhất thiết phải xây dựng được đội ngũ cấp dưỡng đủ về số lượng, chuẩn về chuyên môn, ổn định về đời sống và gắn bó với địa phương. Khi bài toán nhân lực được giải quyết đồng bộ, hệ thống trường PTDTNT liên cấp mới thực sự trở thành nền tảng quan trọng để phát triển giáo dục, bảo đảm an sinh xã hội và xây dựng khu vực biên giới Gia Lai ngày càng ổn định, phát triển bền vững.

Theo baogialai.com.vn


 Viện kiểm sát tuyên truyền pháp luật về ma túy tại trường học ở Gia Lai

 Toàn cảnh phiên tòa giả định.

VKSND khu vực 8, tỉnh Gia Lai phối hợp tổ chức phiên tòa giả định” nhằm tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về phòng, chống ma túy cho đội viên, đoàn viên, thanh niên và học sinh.

Tại Trường THCS Lý Tự Trọng, xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai, VKSND khu vực 8 vừa phối hợp với TAND khu vực 8, Phòng THADS khu vực 8, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Gia Lai (chi nhánh 4), Đoàn xã Chư Prông và Liên đội Trường THCS Lý Tự Trọng tổ chức chương trình “phiên tòa giả định” nhằm tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về phòng, chống ma túy cho đội viên, đoàn viên, thanh niên và học sinh trên địa bàn.

Theo thông tin từ VKSND khu vực 8, trong thời gian qua, tình hình tội phạm ma túy tại địa bàn có những diễn biến phức tạp với xu hướng trẻ hóa đối tượng, có nguy cơ xâm nhập vào môi trường học đường.

Trước thực trạng đó, việc nâng cao nhận thức, giúp học sinh cảnh giác trước sự lôi kéo vào con đường sử dụng trái phép chất ma túy là vô cùng cần thiết trước thời điểm các em bước vào kỳ nghỉ hè năm học 2025-2026.

Chương trình được xây dựng với hình thức sân khấu hóa trực quan, sinh động, tái hiện chân thực một phiên tòa xét xử vụ án hình sự liên quan đến tội phạm ma túy. Nội dung tình huống pháp lý và kịch bản được các cán bộ chuyên môn của VKSND khu vực 8 phối hợp xây dựng kỹ lưỡng, đảm bảo đúng các quy định pháp luật.

Các vai diễn trong phiên tòa từ Thẩm phán, Kiểm sát viên đến bị cáo đều được các đoàn viên thanh niên đảm nhiệm theo đúng chuyên môn và năng khiếu, mang lại sự gần gũi và hiệu quả truyền tải cao.

Thông qua diễn biến tại phiên tòa, chương trình đã làm rõ những hệ lụy đau lòng của ma túy đối với sức khỏe con người và trật tự xã hội. Đồng thời, phân tích các quy định của Bộ luật Hình sự liên quan đến hành vi vi phạm.

Đây không chỉ là một buổi tuyên truyền pháp luật khô khan mà là một “tiết học thực tế” giúp các em học sinh nhận thức rõ tính nghiêm minh của pháp luật, từ đó xây dựng lối sống lành mạnh, bản lĩnh nói không với ma túy.

Bên cạnh phần diễn án, chương trình còn lồng ghép các câu hỏi liên quan đến tội phạm về ma túy vào các phần giao lưu trả lời câu hỏi giúp tăng khả năng tiếp thu cho các em học sinh. Từ đó, nâng cao hơn nữa tính hiệu quả của công tác tuyên tuyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống ma túy.

Phiên tòa giả định là hoạt động thiết thực, thể hiện vai trò xung kích và trách nhiệm của tuổi trẻ ngành kiểm sát cùng các đơn vị phối hợp trong công tác phòng, chống tội phạm, thực hiện có hiệu quả Kết luận 132-KL/TW ngày 18/3/2025 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 16/8/2019 của Bộ chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy. Thành công của buổi tuyên truyền góp phần tích cực vào việc giữ vững an ninh trật tự, xây dựng môi trường học đường an toàn, lành mạnh và văn minh tại địa phương./.

Theo baovephapluat.vn


 Gia Lai chuẩn bị đấu giá dự án Trung tâm thương mại hơn 500 tỷ đồng

 

Theo quyết định phê duyệt, tổng vốn đầu tư của dự án khoảng 511,5 tỷ đồng.

aUBND tỉnh Gia Lai vừa phê duyệt phương án đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện Dự án Trung tâm thương mại 27 Nguyễn Văn Cừ tại phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai.

Tổng vốn đầu tư hơn 511 tỷ đồng

Theo phương án được duyệt, dự án sẽ được triển khai trên khu đất có diện tích hơn 14.817 m2 với mục tiêu xây dựng tổ hợp thương mại dịch vụ hiện đại, đồng bộ hạ tầng kỹ thuật. Dự án được quy hoạch với mật độ xây dựng tối đa 53,1% và hệ số sử dụng đất tối đa 1,95 lần. Tổng diện tích sàn xây dựng dự kiến khoảng 33.057,7 m2. Công trình có chiều cao từ 2 đến 5 tầng.

Theo quyết định phê duyệt, tổng vốn đầu tư của dự án khoảng 511,5 tỷ đồng.

Thời gian hoàn thành dự kiến trong vòng 24 tháng kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định giao đất hoặc cho thuê đất. UBND tỉnh Gia Lai giao Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất dự án trong quý II/2026.

Hình thành tổ hợp thương mại, giải trí quy mô lớn

Theo kế hoạch, trung tâm thương mại này sẽ phục vụ khoảng 3.000 khách hàng mỗi ngày với nhiều loại hình dịch vụ khác nhau.

Dự án dự kiến bao gồm khu siêu thị, trung tâm mua sắm, khu ẩm thực và nhà hàng, khu vui chơi giải trí, rạp chiếu phim, khu kho vận, văn phòng điều hành cùng các hạng mục kỹ thuật và lưu trữ lạnh. Giới chức địa phương kỳ vọng dự án sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại dịch vụ và nâng cao diện mạo đô thị khu vực trung tâm tỉnh Gia Lai.

Đối với nhà đầu tư trúng đấu giá, UBND tỉnh Gia Lai yêu cầu phối hợp với các đơn vị liên quan để rà soát chi tiết các giải pháp kỹ thuật, phương án đấu nối hạ tầng và các nội dung chuyên ngành liên quan trước khi triển khai dự án.

Quá trình thực hiện phải bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật hiện hành. Ngoài ra, trong trường hợp phát sinh hoạt động thu hồi khoáng sản trong phạm vi dự án, nhà đầu tư phải liên hệ Sở Nông nghiệp và Môi trường để được hướng dẫn thủ tục theo quy định của Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024 cùng các văn bản hướng dẫn liên quan.

Theo doanhnhan.baophapluat.vn


 Niềm vui trong ngôi nhà mới

Niềm vui trong ngôi nhà mới
Các đại biểu chia vui cùng gia đình cụ Bùi Thị Chanh (khu phố Hòa Trung 1, phường Hoài Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai) trong ngày khánh thành nhà tình nghĩa. 

Ngày Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng (Bộ Tổng Tham mưu) phối hợp với UBND phường Hoài Nhơn Nam (tỉnh Gia Lai) tổ chức lễ khánh thành, bàn giao nhà tình nghĩa tặng cụ Bùi Thị Chanh tại khu phố Hòa Trung 1, phường Hoài Nhơn Nam có rất đông bà con địa phương đến chung vui.

Tìm hiểu chúng tôi được biết, cụ Bùi Thị Chanh sinh năm 1926, là mẹ liệt sĩ Huỳnh Văn Có (hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước), sinh sống trong căn nhà cấp 4 đã xuống cấp nhưng không có điều kiện để sửa chữa. Trước hoàn cảnh khó khăn của cụ Chanh, Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng và các cơ quan, đơn vị trực thuộc Cục đã hỗ trợ 150 triệu đồng để gia đình xây dựng nhà mới. Trò chuyện với chúng tôi trong ngôi nhà mới, ông Huỳnh Văn Bé (em trai liệt sĩ Huỳnh Văn Có) tâm sự: “Được Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng cùng cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ nên mẹ tôi đã có ngôi nhà mới khang trang. Đây là động lực lớn để gia đình vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống”.

Phát biểu tại lễ khánh thành, bàn giao nhà tình nghĩa, Thiếu tướng Nguyễn Hoàng Ngọc Dũng, Cục trưởng Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng cho biết: Ngôi nhà tình nghĩa được khánh thành hôm nay là tình cảm, tình đồng chí, đồng bào mà tập thể cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng gửi gắm đến cụ Bùi Thị Chanh và gia đình-như một lời tri ân sâu sắc đối với sự hy sinh của liệt sĩ Huỳnh Văn Có, vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Được biết, những năm qua, đồng thời với thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, cùng với cả nước và toàn quân, phong trào đền ơn đáp nghĩa trong Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng được quan tâm, phát triển, tạo sức lan tỏa sâu rộng. Cán bộ, nhân viên, chiến sĩ trong Cục đã đóng góp công sức, vật chất để xây dựng, sửa chữa nhà ở, tặng sổ tiết kiệm, đồ dùng sinh hoạt đến các gia đình có công với cách mạng, quyên góp giúp đỡ đồng bào nghèo, người dân bị thiên tai, bão, lũ. Chỉ riêng từ năm 2020 đến nay, Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng và các cơ quan, đơn vị trực thuộc Cục đã hỗ trợ kinh phí xây mới 3 ngôi nhà tình nghĩa tặng các gia đình chính sách.

Theo www.qdnd.vn


 Tôn tạo “con đường nghệ thuật” bên suối Hội Phú

Các đại biểu tham quan một tác phẩm vừa được thi công, trưng bày giai đoạn II. Ảnh: P.D

Lễ khánh thành cụm tác phẩm điêu khắc “Đất và người Gia Lai” giai đoạn II năm 2026 vào chiều 19-5 tại khu đô thị suối Hội Phú đã góp phần hoàn thiện tuyến trưng bày nghệ thuật dọc bờ suối thơ mộng giữa lòng phố núi Pleiku.

Song để xây dựng nơi đây trở thành điểm đến văn hóa - du lịch độc đáo thì vẫn cần nhiều nỗ lực trong tôn tạo cảnh quan, tạo “khoảng thở” cho tác phẩm.

Đưa nghệ thuật đến gần hơn với công chúng

NSƯT Đặng Công Hưng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, Trưởng Ban tổ chức Trại sáng tác điêu khắc “Đất và người Gia Lai” - cho biết: Cụm 14 tác phẩm giai đoạn I (khánh thành ngày 19-8-2025) đã nhận được nhiều đánh giá tích cực từ công chúng và giới nghệ thuật.

Sau khi huy động được thêm nguồn kinh phí xã hội hóa, 11 tác phẩm xuất sắc khác của các nhà điêu khắc tên tuổi trong cả nước tiếp tục được thi công, trưng bày giai đoạn II, góp phần nâng tầm cảnh quan đô thị và đưa nghệ thuật đến gần hơn với công chúng.

Vẫn mang âm hưởng đặc trưng của vùng đất cao nguyên, các tác phẩm điêu khắc mới tiếp tục mang đến cho người thưởng lãm những xúc cảm tròn đầy với Âm vang đại ngàn (tác giả Nguyễn Hoài Huyền Vũ), Nữ thần mặt trời thức giấc (Trần Mai Hữu Quý), Đôi chân trần (Phạm Đình Tiến), Sơn nữ (Nguyễn Hữu Hậu), Thiếu nữ bên chim chơ rao (Võ Ngọc Lân)…

Theo dõi sự kiện khánh thành cụm tác phẩm qua cả hai giai đoạn, ông Dương Văn Minh (phường Quy Nhơn Nam) - hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh - đã dành tặng những lời khen ngợi: “Tính ẩn dụ nghệ thuật và cách điệu của các tác phẩm rất cao, làm bật lên hồn cốt của đất và người Tây Nguyên với nét đẹp hồn hậu, hùng tráng.

Khi các tác phẩm được đặt vào không gian đô thị đã góp phần biến vùng đất này thành một nơi đầy năng lượng”.

Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam Lương Xuân Đoàn cũng chia sẻ những cảm xúc tương tự ngay trong buổi lễ khánh thành cụm tác phẩm giai đoạn I. Ông cho hay: “Tôi nghĩ rằng với thiên nhiên đẹp đẽ, với đôi bờ suối như thế này, không cớ gì lại không có điêu khắc ngoài trời. Điêu khắc ngoài trời không chỉ là tượng đài, đài tưởng niệm mà còn là các tác phẩm điêu khắc nhỏ hòa điệu với thiên nhiên, làm đẹp cho thiên nhiên.

Sự động chạm thị giác khi nhìn ngắm các tác phẩm rải dọc trục suối này không thể không mang đến những rung động về cảm xúc. Du khách khi đến Pleiku sẽ cảm nhận được vẻ đẹp của vùng đất này; nhưng quan trọng hơn, những đứa trẻ lớn lên từ đây sẽ được chạm ánh mắt đầu đời vào cái đẹp”.

Chú trọng tôn tạo, gìn giữ

Tham dự lễ khánh thành vào chiều 19-5, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Quế gửi lời cảm ơn đến nhà tài trợ và các nghệ sĩ điêu khắc trong cả nước đã dành tình yêu cho Gia Lai; đồng thời, chính quyền địa phương tiếp tục chú trọng công tác bảo quản tác phẩm, tôn tạo không gian trưng bày nhằm lan tỏa giá trị của “con đường nghệ thuật” đến người dân và du khách.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng gợi ý: Tại phố núi Pleiku còn rất nhiều nơi có thể tôn vinh vẻ đẹp cảnh quan nhờ mỹ thuật đô thị. Do vậy, lãnh đạo các phường nên mạnh dạn bàn bạc ý tưởng với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh để nâng tầm cảnh quan đô thị, tạo thêm những điểm đến hấp dẫn dành cho du khách.

Chia sẻ cảm tưởng tại buổi lễ, nhà điêu khắc Nguyễn Văn Hàm (Đà Nẵng, người góp vào công trình tác phẩm Âm vang) nhận xét: Nhờ sự quan tâm của tỉnh, sự quyết liệt của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và tinh thần đồng lòng của các nghệ sĩ mà hình thành được vườn tượng giữa phố núi, dù rằng nguồn kinh phí xã hội hóa rất khiêm tốn.

“Chỉ cần chúng ta ứng xử với tác giả, tác phẩm như thế nào để thấy được sự trân quý thì các nghệ sĩ sẽ tiếp tục hưởng ứng. Cá nhân tôi mong rằng địa phương sẽ dành kinh phí bảo trì bởi mưa nắng sẽ tác động đến hình thức của tác phẩm.

Ngoài ra, có thể vận động các gia đình tại khu vực này chung tay bảo vệ tác phẩm khỏi bị hư hại trước hành vi của những người thiếu ý thức” - nhà điêu khắc Nguyễn Văn Hàm đề xuất.

Cùng với đó, trước thực trạng các tác phẩm phải “cạnh tranh” với các phương tiện giao thông đậu đỗ khá dày dọc trục suối Hội Phú, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đặng Công Hưng cho biết: Hội sẽ trao đổi với chính quyền địa phương nhằm đề ra giải pháp sao cho tác phẩm có “khoảng thở”, tạo không gian thông thoáng cho người dân và du khách được chiêm ngắm tác phẩm.

Hội cũng sẽ đề xuất tôn tạo cảnh quan bờ kè bằng các loại cây hoa cảnh phù hợp để mang đến cho người dân và du khách những trải nghiệm sâu sắc, giàu cảm xúc về sự hòa điệu giữa thiên nhiên và nghệ thuật công cộng.

Theo baogialai.com.vn


 Bảo tồn và phát huy giá trị không gian văn hóa vùng đầm phá duyên hải Gia Lai gắn với phát triển kinh tế di sản địa phương

Sau sáp nhập, Gia Lai mới không chỉ mở rộng không gian phát triển từ đại ngàn xuống biển mà còn hình thành cấu trúc văn hóa liên vùng đặc sắc. Trong đó, hệ thống đầm phá ven biển như Thị Nại, Trà Ổ, Đề Gi được xem là những không gian sinh thái - văn hóa giàu giá trị lịch sử, cộng đồng và sinh kế, cần được bảo tồn, phát huy gắn với phát triển kinh tế di sản bền vững.

Sau quá trình tái cấu trúc không gian phát triển vùng, Gia Lai mới không còn chỉ được nhìn nhận như một không gian cao nguyên gắn với cồng chiêng, sử thi hay văn hóa Tây Nguyên, mà đã mở rộng thành một cấu trúc liên vùng gồm núi rừng, đồng bằng và biển.

Trong cấu trúc ấy, vùng ven biển Bình Định trước sáp nhập giữ vai trò đặc biệt quan trọng như “một cửa ngõ văn hóa kết nối Tây Nguyên với biển Đông thông qua các tuyến giao thương lịch sử, đặc biệt là hành lang Đông – Tây dọc theo sông Kôn và Quốc lộ 19”. Không gian ấy không chỉ tạo nên sự liên thông về kinh tế mà còn hình thành các quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa lâu dài giữa miền thượng và miền duyên hải.

Trong hệ thống di sản ven biển ấy, các đầm phá như Thị Nại, Trà Ổ và Đề Gi nổi lên như những không gian văn hóa đặc thù, nơi hội tụ đồng thời các giá trị sinh thái, lịch sử, tín ngưỡng và sinh kế cộng đồng. Đây không chỉ là những vùng nước lợ hay hệ sinh thái thủy sinh đơn thuần, mà còn là nơi hình thành thương cảng, làng chài, bến nước, nghề cá, các tri thức khai thác tài nguyên biển và những dạng thức tín ngưỡng dân gian gắn với môi trường sông nước. Theo nhóm tác giả chuyên luận Bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa biển đảo Việt Nam, từ góc nhìn văn hóa học và nhân học sinh thái, “đầm phá có thể được xem như một không gian văn hóa sống, nơi diễn ra sự tương tác liên tục giữa con người với tự nhiên, giữa lịch sử với hiện tại và giữa ký ức cộng đồng với nhu cầu phát triển đương đại”. Đặc biệt, lịch sử khai thác và cư trú tại các vùng đầm phá vùng duyên hải Gia Lai ngày nay cho thấy sự đan xen của nhiều lớp văn hóa khác nhau.

Dấu ấn Chăm Pa còn lưu lại qua các thương cảng cổ, hệ thống địa danh và các truyền thuyết dân gian ven biển. Quá trình người Việt tiến xuống khai phá vùng duyên hải đã hình thành nên các làng ven đầm, các mô hình sinh kế dựa vào môi trường nước lợ cùng hệ thống tín ngưỡng cầu ngư, thờ cá Ông, thờ thủy thần. Bên cạnh đó, cộng đồng người Hoa trong lịch sử giao thương ven biển cũng để lại nhiều dấu vết thông qua hoạt động buôn bán, tín ngưỡng Thiên Hậu, Quan Công và mạng lưới giao lưu thương mại tại các cửa biển, đầm phá. Chính sự giao thoa Việt, Chăm và Hoa đã góp phần tạo nên chiều sâu văn hóa đa tầng cho không gian đầm phá ven biển Gia Lai ngày nay.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đô thị hóa, phát triển du lịch và khai thác tài nguyên biển hiện nay, nhiều không gian đầm phá đang đứng trước nguy cơ bị thu hẹp, ô nhiễm hoặc bị du lịch hóa theo hướng thương mại đơn thuần. Không ít nơi chỉ được nhìn nhận như tài nguyên cảnh quan phục vụ nghỉ dưỡng, check-in hoặc khai thác thủy sản mà chưa được tiếp cận như một hệ thống di sản tổng thể. Điều này dẫn đến nguy cơ mai một tri thức bản địa, đứt gãy ký ức cộng đồng và suy giảm các hệ sinh thái tự nhiên vốn giữ vai trò nền tảng đối với đời sống cư dân ven đầm.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, nhận diện và đề xuất các định hướng bảo tồn – phát huy giá trị không gian văn hóa vùng đầm phá gắn với phát triển kinh tế di sản trở thành yêu cầu cấp thiết. Đây không chỉ là vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái mà còn là chiến lược phát triển văn hóa bền vững cho Gia Lai mới trong tương lai. Trên cơ sở khảo cứu thư tịch Hán Nôm, địa chí, tài liệu quản lý môi trường biển, tư liệu lịch sử, văn hóa và thực tiễn địa phương, bài viết hướng tới việc tiếp cận hệ thống đầm phá ven biển Gia Lai như một hệ sinh thái di sản - nơi mà các giá trị tự nhiên, lịch sử, văn hóa và cộng đồng cần được bảo tồn trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế địa phương. Theo đó, cần chuyển từ tư duy khai thác cảnh quan sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái di sản, trong đó cộng đồng địa phương giữ vai trò trung tâm và công nghệ số đóng vai trò nền tảng trong quản trị không gian văn hóa.

2. Hệ thống đầm phá duyên hải Gia lai như một không gian văn hóa đặc thù

2.1. Không gian đầm phá trong tiến trình hình thành văn hóa vùng duyên hải Gia Lai ngày nay

Đầm phá ven biển miền Trung là “dạng địa hình chuyển tiếp giữa lục địa và biển, nơi diễn ra sự giao thoa giữa nước ngọt từ hệ thống sông ngòi nội địa với nước mặn từ biển khơi, qua đó hình thành nên hệ sinh thái nước lợ đặc trưng”. Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp cận từ góc độ tự nhiên học hay sinh thái học thì chưa thể lý giải đầy đủ vai trò của đầm phá trong tiến trình hình thành và phát triển cộng đồng cư dân vùng duyên hải. Trên thực tế, đầm phá không đơn thuần là một thực thể địa lý mà còn là một không gian văn hóa sống, nơi con người kiến tạo nên các mô hình sinh kế, tín ngưỡng, ký ức cộng đồng và các hình thức tổ chức xã hội đặc thù gắn với môi trường nước lợ. Chính vì vậy, trong nhiều nghiên cứu hiện nay, đầm phá thường được nhìn nhận như một hệ sinh thái nhân văn, nơi tự nhiên và văn hóa cùng tồn tại trong quan hệ cộng sinh lâu dài.

Trong lịch sử cư trú của người Việt ở miền Trung, các vùng đầm phá thường là nơi hình thành làng chài, làng ven nước, bến cá, thương cảng và các tuyến giao thương đường thủy quan trọng. Không gian ấy đồng thời sản sinh nhiều dạng thức tín ngưỡng dân gian đặc thù như thờ cá Ông, thờ Nam Hải đại tướng quân, thờ thủy thần, thờ Hà Bá hay tín ngưỡng Thiên Hậu của cộng đồng người Hoa ven biển. Bên cạnh đó là hệ thống tri thức bản địa phong phú liên quan đến mùa nước, con nước, dòng chảy, thủy triều, kỹ thuật đánh bắt, chế biến và trao đổi thủy sản. Có thể nói, đầm phá chính là nơi hình thành văn hóa vùng thủy canh nước lợ – một dạng thức văn hóa đặc thù của cư dân duyên hải miền Trung.

Trong cấu trúc không gian ven biển Bình Định trước sáp nhập, hệ thống đầm phá gồm Thị Nại, Trà Ổ và Đề Gi tạo thành tam giác sinh thái – văn hóa quan trọng ở vùng duyên hải Nam Trung bộ. Đây không chỉ là ba vùng nước lớn có ý nghĩa sinh thái mà còn là những không gian lưu giữ các lớp trầm tích văn hóa kéo dài từ thời Chăm Pa đến thời Đại Việt và hiện đại. Theo nghiên cứu của các cơ quan chức năng tỉnh Bình Định (trước sáp nhập) về quản lý tổng hợp tài nguyên biển, địa phương đã triển khai nhiều nhiệm vụ điều tra, đánh giá hiện trạng và xây dựng giải pháp quản lý tổng hợp đối với đầm Thị Nại và đầm Đề Gi nhằm hướng đến phát triển bền vững, cho thấy vai trò đặc biệt của các đầm phá trong chiến lược phát triển kinh tế biển địa phương.

Trong ba không gian ấy, Thị Nại mang dáng dấp rõ nét nhất của một vùng thương cảng lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tên gọi Thị Nại có liên hệ với Cri-Banoi, một thương cảng quan trọng của vương quốc Chăm Pa xưa. Không gian đầm Thị Nại vì thế không chỉ gắn với lịch sử giao thương đường biển mà còn phản ánh quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Việt, Chăm và Hoa trong suốt nhiều thế kỷ. Từ thời Chăm Pa, đây đã là cửa ngõ giao thương nối miền duyên hải với vùng thượng đạo Tây Sơn thông qua hệ thống sông Kôn. “Đến thời Đại Việt, cùng với sự hình thành của cảng Quy Nhơn, không gian Thị Nại tiếp tục phát triển như một trung tâm trao đổi hàng hóa quan trọng của vùng Nam Trung Bộ”. Các cộng đồng cư dân Việt, Hoa sinh sống ven đầm đã hình thành hệ thống làng chài, miếu thờ thủy thần, lễ cầu ngư và các hoạt động thương hồ đặc trưng. Không gian này ngày nay vẫn còn lưu giữ dấu vết của các làng chài truyền thống, hệ sinh thái rừng ngập mặn, Cồn Chim và nhiều lớp ký ức văn hóa gắn với biển.

Khác với Thị Nại, đầm Trà Ổ lại mang sắc thái của một không gian đầm nội địa giàu tính ký ức. Các tài liệu địa chí cho biết, có thể Trà Ổ vốn là một vịnh biển cổ thông với biển qua cửa Hà Ra, về sau bị bồi lấp dần thành đầm nước lợ. Chính quá trình chuyển hóa địa chất ấy đã tạo nên một “hệ sinh thái đặc biệt với nhiều loại thủy sản đặc hữu như cá chình mun, cá chình bông”. Không gian Trà Ổ đồng thời còn lưu giữ nhịp sống điền dã ven đầm với nghề đánh bắt thủ công, chèo thuyền, nuôi cá và các hình thức sinh hoạt cộng đồng đặc trưng của cư dân vùng nước lợ.

Trong khi đó, đầm Đề Gi phản ánh rõ nét hơn mô hình cộng đồng sinh kế ven đầm gắn với nuôi trồng thủy sản và quản trị tài nguyên vùng bờ. Theo kết quả nghiên cứu của cho thấy từ giai đoạn 2009 – 2010, địa phương đã triển khai nhiệm vụ “điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý tổng hợp đầm Đề Gi theo hướng phát triển bền vững”, qua đó xây dựng hệ thống dữ liệu về tài nguyên và môi trường của khu vực này. Không gian Đề Gi hiện nay không chỉ gắn với nghề cá, nuôi trồng thủy sản mà còn là nơi tồn tại các mô hình đồng quản lý cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Theo báo cáo trên, nhiều xã ven đầm Thị Nại, Trà Ổ, Đề Gi đã tham gia các mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản, góp phần tăng cường vai trò cộng đồng trong bảo vệ hệ sinh thái vùng bờ. Điều này cho thấy đầm phá không chỉ là “không gian sinh thái mà còn là không gian xã hội, nơi hình thành các phương thức quản trị cộng đồng đặc thù của cư dân ven biển”.

Từ những đặc điểm trên có thể thấy, hệ thống đầm phá ven biển Gia Lai không chỉ mang giá trị tự nhiên mà còn là nơi kết tinh các lớp văn hóa Việt, Chăm và Hoa, phản ánh lịch sử giao thương biển, quá trình thích ứng sinh thái và sự hình thành bản sắc cư dân duyên hải. Đây chính là nền tảng quan trọng để tiếp cận đầm phá như một không gian văn hóa đặc thù trong chiến lược bảo tồn và phát triển kinh tế di sản của Gia Lai mới hiện nay.

2.2. Dấu ấn văn hóa Việt – Chăm – Hoa trong lịch sử khai thác đầm phá

Từ thời Champa, vùng đầm Thị Nại đã giữ vai trò như một cửa ngõ giao thương quan trọng của khu vực duyên hải miền Trung. Nhiều nghiên cứu cho rằng “tên gọi Thị Nại có liên hệ với Cri-Banoi – một cảng thị cổ của vương quốc Chăm Pa, từng giữ vị trí trung chuyển hàng hóa giữa miền duyên hải với vùng cao nguyên phía Tây. Không gian này nằm ở vị trí đặc biệt thuận lợi, phía Nam tiếp giáp vịnh Quy Nhơn, phía Đông được bán đảo Phương Mai che chắn, đồng thời liên thông với hệ thống sông Kôn – tuyến giao thông thủy quan trọng dẫn lên vùng Tây Sơn thượng đạo. Chính điều kiện địa lý ấy đã giúp Thị Nại từ rất sớm trở thành một cửa ngõ văn hóa kết nối biển Đông với nội địa Tây Nguyên”. Các tài liệu địa phương cho biết đầm Thị Nại có diện tích khoảng 5.000 ha, là đầm nước mặn – lợ lớn nhất Bình Định, kéo dài hơn 10 km và thông ra biển qua cửa Giã (cửa Thị Nại). Trong lịch sử, cửa Giã không chỉ là nơi tàu thuyền ra vào mà còn là đầu mối giao lưu hàng hóa của cư dân miền biển với vùng thượng đạo. Dân gian Bình Định còn lưu truyền câu ca:

Ai về cửa Giã chiều hôm,
Măng le gửi xuống, cá chuồn gửi lên.

Câu ca dao ngắn gọn nhưng phản ánh rất rõ tính chất liên vùng, xuyên vùng của không gian đầm phá Thị Nại. Nếu măng le là sản vật của miền núi Tây Nguyên thì cá chuồn lại là đặc sản biển, cho thấy từ rất sớm nơi đây đã hình thành mạng lưới trao đổi hàng hóa giữa miền núi và miền biển. Điều đó cũng lý giải vì sao Thị Nại không chỉ là một không gian sinh thái mà còn là một trung tâm giao lưu kinh tế, văn hóa quan trọng trong lịch sử miền Trung nói chung và vùng duyên hải của Gia Lai mới nói riêng.

Sau quá trình Nam tiến, người Việt tiếp tục khai thác và tái cấu trúc không gian đầm phá theo mô hình cư trú ven nước. Các làng/vạn chài, bến nước, nghề cá và hệ thống tín ngưỡng dân gian dần hình thành quanh vùng đầm phá. Trong các thư tịch Hán Nôm, hệ thống đầm phá ven biển Gia Lai không chỉ được mô tả như danh thắng tự nhiên mà còn được ghi nhận như những vùng sinh kế quan trọng của cư dân địa phương. Các ghi chép về chu vi đầm, dòng chảy, cửa biển, ghe thuyền và hoạt động đánh bắt cho thấy triều Nguyễn đã nhìn nhận đầm phá như những không gian kinh tế có vai trò đặc biệt đối với vùng duyên hải. Đặc biệt, đầm Trà Ổ phản ánh rất rõ sự đan xen giữa địa danh hành chính, lịch sử môi trường và ký ức cộng đồng cư dân ven đầm. Trong Đại Nam nhất thống chí (bản thời Tự Đức), tên gọi của đầm từng được ghi nhận là Hoa Ổ đàm 花塢潭, nhưng đến các bản hiệu đính thời Duy Tân và Đồng Khánh địa dư chí thì tên gọi được chuẩn hóa thành Trà Ổ đàm 茶塢潭. Sự chuyển đổi từ Hoa Ổ sang Trà Ổ không chỉ là thay đổi tự dạng chữ Hán mà còn phản ánh quá trình chuẩn hóa địa danh trong hệ thống hành chính triều Nguyễn. Song song với tên gọi chính thức ấy, cư dân địa phương lại quen gọi đầm là Châu Trúc – tên ghép từ hai thôn Châu Giang và Trúc Cương/Võng ven đầm. Điều đó cho thấy địa danh ở đây không chỉ mang chức năng hành chính mà còn phản ánh cấu trúc cộng đồng cư trú và quyền làm chủ không gian sinh tồn của cư dân ven nước.

Các tư liệu hiện nay cho biết Trà Ổ vốn là một vịnh nước mặn thông với biển qua cửa Hà Ra, từng có tàu bè giao thương và đến nửa cuối thế kỷ XIX vẫn được triều Nguyễn xem là một hải tấn có đặt trạm thu thuế. Về sau, do quá trình bồi lấp tự nhiên, vùng vịnh cổ dần chuyển thành đầm nước lợ nội địa. Chính sự chuyển hóa địa chất ấy đã tạo nên một hệ sinh thái đặc thù với nhiều loại thủy sản riêng như cá chình mun, cá chình bông. Không gian Trà Ổ ngày nay vẫn lưu giữ nhịp sống điền dã ven đầm với những chiếc thuyền nhỏ, nghề đánh bắt thủ công, đồng ruộng ven nước và các làng cư trú mang sắc thái rất riêng của văn hóa nước lợ miền Trung.

Bên cạnh giá trị sinh thái và lịch sử giao thương, không gian đầm phá ven biển Gia Lai ngày nay còn là nơi hội tụ nhiều lớp tín ngưỡng dân gian đặc thù. Tại Thị Nại, các địa danh như Tháp Thầy Bói, Cồn Chim hay cửa Giã đều gắn với truyền thuyết, tín ngưỡng và ký ức cộng đồng. Theo tư liệu điền dã tại địa phương, Tháp Thầy Bói nằm giữa đầm, nổi lên như một ngọn núi nhỏ giữa sóng nước, là nơi cư dân ven biển đến thắp hương cầu bình an và mùa cá thuận lợi. Truyền thuyết về ông thầy bói, về chim bói cá hay về thủy thần quanh khu vực này cho thấy cư dân ven đầm không chỉ khai thác tự nhiên mà còn kiến tạo nên không gian vũ trụ tâm linh gắn với môi trường sông nước. Trong khi đó, Cồn Chim giữa đầm Thị Nại lại phản ánh rõ nét mối quan hệ cộng sinh giữa con người với hệ sinh thái nước lợ. Tư liệu hiện nay ghi nhận khu vực này có hệ động thực vật rất phong phú, gồm hàng chục loài chim di cư, rừng ngập mặn và nhiều loài thủy sản quý. Không gian ấy vừa là nơi mưu sinh của cư dân ven đầm, vừa là một cảnh quan ký ức, nơi lưu giữ nhịp sống truyền thống của các làng chài của Bình Định trước sáp nhập.

Ngoài yếu tố Việt và Chăm, cộng đồng người Hoa trong lịch sử giao thương ven biển cũng để lại nhiều dấu ấn tại vùng đầm phá ở khu vực này. Các hoạt động buôn bán qua cảng Thị Nại, cửa Giã và hệ thống thương hồ ven biển đã tạo nên môi trường giao lưu kinh tế, văn hóa rộng lớn. Cùng với đó là “sự hiện diện của tín ngưỡng Thiên Hậu, các miếu thờ thủy thần và những dạng thức văn hóa thương hồ mang màu sắc Hoa kiều. Chính sự giao thoa Việt – Chăm – Hoa qua nhiều thế kỷ đã tạo nên một cấu trúc văn hóa đa tầng cho không gian đầm phá ven biển Bình Định, nơi mỗi cửa nước, mỗi làng chài hay mỗi địa danh đều chứa đựng những lớp ký ức lịch sử khác nhau”.

Từ những dẫn liệu trên có thể thấy, các đầm phá như Thị Nại, Trà Ổ và Đề Gi không chỉ là không gian sinh thái tự nhiên mà còn là không gian ký ức - sinh thái của cư dân ven biển. Ở đó, lịch sử giao thương, tín ngưỡng dân gian, tri thức bản địa và sinh kế cộng đồng đã hòa quyện để hình thành một dạng thức văn hóa đặc thù của vùng duyên hải Gia Lai sau sáp nhập.

2.3. Hệ sinh thái sinh kế, tín ngưỡng và ký ức cộng đồng vùng đầm phá

Không gian đầm phá vùng duyên hải Gia Lai không chỉ là môi trường sinh thái tự nhiên mà còn là nơi sản sinh các mô hình sinh kế và cấu trúc văn hóa cộng đồng đặc thù của cư dân duyên hải miền Trung. Trong lịch sử, cư dân sống quanh các đầm Thị Nại, Trà Ổ và Đề Gi đã tích lũy một hệ thống tri thức bản địa phong phú liên quan đến con nước, thủy triều, dòng chảy, mùa cá, kỹ thuật đánh bắt và phương thức khai thác nguồn lợi thủy sản. Những tri thức ấy không tồn tại như kinh nghiệm sản xuất đơn lẻ mà đã trở thành một phần của cấu trúc văn hóa cộng đồng, gắn chặt với nhịp sống, tập quán cư trú và tín ngưỡng ven nước. Đối với cư dân vùng đầm phá, việc nhận biết nước lớn – nước ròng, hướng gió, độ mặn, dòng chảy hay chu kỳ di cư của các loài thủy sản là điều kiện quan trọng để tổ chức hoạt động sinh kế. Chính từ quá trình thích ứng lâu dài với môi trường nước lợ, cư dân ven đầm đã hình thành nên các phương thức đánh bắt mang tính đặc thù như kéo lưới, đặt rập, giăng câu, đan đó, chèo thuyền thúng hay nuôi thủy sản theo mùa nước. Các hoạt động ấy không chỉ phản ánh khả năng thích nghi với tự nhiên mà còn cho thấy sự hình thành của một dạng thức văn hóa thủy canh nước lợ riêng biệt trong cấu trúc văn hóa miền Trung.

Ở Thị Nại, hệ sinh thái rừng ngập mặn, Cồn Chim, cửa Giã và các làng chài ven đầm đã tạo nên một không gian cộng sinh đặc biệt giữa con người với tự nhiên. Theo các tài liệu khảo cứu, đầm Thị Nại có diện tích hơn 5.000 ha, là đầm nước mặn – lợ lớn nhất Gia Lai, nơi hội tụ của hệ thống sông Kôn và sông Hà Thanh trước khi đổ ra biển. Không gian này từ lâu đã trở thành nguồn mưu sinh quan trọng của cư dân ven đầm với các hoạt động đánh bắt, nuôi hàu, nuôi tôm, khai thác cua, cá và các loài thủy sản nước lợ. Những hình ảnh ghe thuyền, lồng nuôi thủy sản, người dân kéo lưới hay chèo thuyền thúng trên mặt đầm không chỉ là sinh kế mà còn là biểu hiện sinh động của đời sống văn hóa vùng nước lợ. Bên cạnh đó, hệ thống rừng ngập mặn và Cồn Chim tại Thị Nại cho thấy rõ tính chất cộng sinh sinh thái của cư dân ven đầm. Theo nhóm tác giả công trình Tuy Phước – Lịch sử và văn hóa, khu vực này là nơi cư trú của hàng chục loài chim nước và chim di cư, đồng thời có nhiều loài thủy sinh quý giá như hàu, cua, cá mú, tôm sú. Chính sự phong phú ấy đã tạo nên một môi trường sống đặc biệt, nơi cư dân không chỉ khai thác tài nguyên mà còn học cách thích nghi và bảo vệ môi trường sinh thái để duy trì nguồn sống lâu dài.

Không gian Thị Nại đồng thời còn gắn với đời sống tín ngưỡng và ký ức cộng đồng ven biển. Các lễ cầu ngư, tục thờ cá Ông, thờ thủy thần hay các truyền thuyết dân gian quanh Tháp Thầy Bói phản ánh nhu cầu tìm kiếm sự che chở tinh thần của cư dân trước môi trường sông nước nhiều bất trắc. Những truyền thuyết về ông thầy bói, chim bói cá hay thủy thần không chỉ là yếu tố dân gian mà còn phản ánh cách cư dân kiến tạo nên những ý thức tâm linh của mình trong mối quan hệ với môi trường nước lợ.

Trong khi đó, Trà Ổ lại mang sắc thái của một không gian ký ức nhiều hơn là một trung tâm giao thương sôi động. Theo các tư liệu hiện nay, Trà Ổ vốn là một vịnh nước mặn cổ từng thông với biển qua cửa Hà Ra, về sau bị bồi lấp dần và chuyển thành đầm nước lợ nội địa. Chính quá trình biến đổi địa chất ấy đã tạo nên một hệ sinh thái đặc biệt với nhiều những sản vật nổi tiếng của vùng đầm nước lợ. Không gian Trà Ổ ngày nay vẫn lưu giữ vẻ tĩnh lặng của các làng ven đầm với những chiếc thuyền nhỏ, những cánh đồng ven nước và nhịp sống điền dã đặc trưng. Không gian Trà Ổ vì thế vừa là môi trường sinh thái vừa là nơi lưu giữ ký ức văn hóa của cư dân địa phương. Những hoạt động đánh bắt thủ công, nuôi cá nước lợ, chèo thuyền hay các sinh hoạt cộng đồng ven đầm đã tạo nên một cảnh quan nhân văn đặc trưng khó tìm thấy ở các vùng đô thị biển hiện đại.

Đối với Đề Gi, không gian đầm gắn chặt với mô hình kinh tế cộng đồng và quản trị tài nguyên vùng bờ. Khác với Thị Nại mang tính thương cảng hay Trà Ổ mang sắc thái ký ức làng đầm, Đề Gi nổi bật ở mô hình sinh kế cộng đồng dựa vào nuôi trồng thủy sản và khai thác vùng nước lợ. Báo cáo của UBND tỉnh Bình Định (trước sáp nhập) cho biết từ giai đoạn 2009 – 2010, địa phương đã triển khai các nhiệm vụ điều tra, đánh giá hiện trạng và xây dựng giải pháp quản lý tổng hợp đầm Đề Gi theo hướng phát triển bền vững. Điều này cho thấy đầm Đề Gi không chỉ được nhìn nhận như vùng khai thác tài nguyên mà còn là một không gian cần được quản trị theo hướng sinh thái và cộng đồng. Các hoạt động nuôi trồng thủy sản, sản xuất nước mắm, chế biến hải sản và tổ chức đánh bắt cộng đồng tại Đề Gi đã tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng của cư dân ven biển. Đặc biệt, mô hình đồng quản lý cộng đồng tại các đầm Thị Nại, Trà Ổ và Đề Gi mà tỉnh Gia Lai mới đã va đang triển khai trong thời gian qua cho thấy vai trò ngày càng lớn của cộng đồng cư dân trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường vùng bờ. Đây là một hướng tiếp cận đáng chú ý bởi nó cho thấy sự kết hợp giữa tri thức bản địa với quản trị hiện đại trong bảo tồn hệ sinh thái đầm phá.

Nhin chung, hệ thống đầm phá ven biển Gia Lai có thể được xem như những không gian ký ức sinh thái, nơi lưu giữ đồng thời các lớp giá trị tự nhiên, lịch sử, tín ngưỡng và tri thức cộng đồng. Đó không chỉ là nơi diễn ra hoạt động sinh kế mà còn là không gian hình thành bản sắc cư dân ven biển, nơi mỗi con nước, mỗi cửa đầm hay mỗi làng chài đều mang theo những lớp ký ức văn hóa được tích lũy qua nhiều thế hệ.

3. Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị không gian văn hóa đầm phá vùng duyên hải tỉnh Gia Lai sau sáp nhập

3.1. Định hướng bảo tồn không gian văn hóa đầm phá tại Gia Lai

3.1.1. Đầm Thị Nại - Không gian thương cảng, sinh thái và ký ức biển

Trong hệ thống đầm phá ven biển Gia Lai, đầm Thị Nại là không gian thể hiện rõ nhất tính chất đa tầng của một di sản vùng nước lợ. Đây không chỉ là một đầm nước mặn – lợ có giá trị sinh thái, mà còn là không gian lịch sử, thương cảng, chiến trận, tín ngưỡng và cảnh quan đặc biệt của vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Theo thống kê và mô tả, đầm Thị Nại nằm ở phía Đông Bắc thành phố Quy Nhơn, rộng khoảng 4 km, trải dài trên 10 km, diện tích mặt nước hơn 5.000 ha; là nơi hợp lưu của sông Côn và sông Hà Thanh, được bán đảo Phương Mai ngăn cách với biển Đông, còn chỗ thông ra biển của đầm chính là cảng Quy Nhơn hiện nay. Từ những đặc điểm này, chúng ta có thể bảo tồn không gia văn hóa của Đầm Thị Nại theo một số hướng như sau:

Một là, cần phát triển Thị Nại với tư cách không gian thương cảng – lịch sử có vị trí chiến lược đặc biệt. Tên gọi Thị Nại tự thân đã chứa đựng nhiều lớp ký ức văn hóa. Tư liệu cho biết đầm Thị Nại có tên chữ Hán là Hải Hạc đàm, nghĩa là đầm có nhiều chim hạc biển; Thị Nại là địa danh Chăm, có nguồn gốc từ CriVinaya, phiên âm Hán Việt là Thị-lị-bì-nại, sau biến âm thành Thị Nại, người Hoa gọi đầm là Tân Châu. Trong quá khứ, đây là một hải cảng nổi tiếng của vương quốc Chiêm Thành.  Như vậy, chỉ riêng hệ thống tên gọi Hải Hạc đàm – CriVinaya/Thị Nại – Tân Châu đã cho thấy sự chồng lớp Việt, Chăm, Hoa trong lịch sử khai thác không gian đầm phá. Với vị trí là cửa ngõ dẫn vào vùng nội địa, Thị Nại từng là điểm tiếp nhận và trung chuyển hàng hóa, đồng thời là nơi diễn ra các cuộc giao tranh quan trọng. Trong lịch sử, địa danh Thị Nại gắn với nhiều trận thủy chiến lớn, từ cuộc tấn công của quân Nguyên vào cửa Thị Nại năm 1284 đến các trận chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh đầu thế kỷ XIX. Điều này cho thấy Thị Nại không chỉ là không gian giao thương, mà còn là địa bàn chiến lược trong lịch sử quân sự và chính trị vùng duyên hải.

Hai là, cần kích thích và kiến tạo Thị Nại trở thành hệ sinh thái nước lợ đặc thù và là nền tảng sinh kế của cư dân ven đầm. Đầm Thị Nại tiếp nhận nước từ các nhánh sông Côn, sông Hà Thanh rồi thoát ra biển qua cửa Giã, còn gọi là cửa Thị Nại. Chính cấu trúc thủy văn này tạo nên môi trường nước mặn – lợ giàu nguồn lợi, thích hợp cho nhiều loài thủy sản và hệ sinh thái rừng ngập mặn. Tư liệu cho biết nơi đây có hệ động thực vật phong phú với rừng ngập mặn, các loài sú, vẹt, đước, bần, rong, cỏ biển; cùng nhiều loài chim nước, chim di cư, cá và phù du.  Từ góc nhìn văn hóa học, nguồn lợi sinh thái ấy chính là nền tảng hình thành vùng văn hóa thủy canh nước lợ của cư dân Thị Nại. Các hoạt động như đánh bắt cá, nuôi hàu, bắt cua, khai thác tôm, chèo thuyền thúng, kéo lưới, đi rập… không chỉ nhằm duy trì sinh kế mà còn tạo nên nhịp sống, kỹ năng và tri thức bản địa của cộng đồng ven đầm. Cư dân nơi đây không chỉ sống nhờ đầm mà còn sống cùng đầm, nghĩa là điều chỉnh phương thức sản xuất theo con nước, mùa gió, dòng chảy và sự vận động của hệ sinh thái.

Ba là, cần xây dựng Cồn Chim trở thành biểu tượng của quan hệ cộng sinh giữa con người và thiên nhiên. Trong không gian Thị Nại, Cồn Chim có ý nghĩa đặc biệt. Đây không chỉ là một đảo xanh giữa đầm mà còn là nơi hội tụ các giá trị sinh thái, cảnh quan và sinh kế. Tư liệu du lịch địa phương mô tả Cồn Chim là khu vực có hệ sinh thái rừng ngập mặn đa dạng, nơi cư trú của nhiều loài chim quý, đồng thời là điểm trải nghiệm đời sống cư dân vùng nước lợ như chèo thuyền, giở lưới, câu cá, thăm lộp.  Ý nghĩa của không gian Cồn Chim không chỉ nằm ở cảnh quan thiên nhiên mà còn ở khả năng biểu đạt một mô hình phát triển hài hòa, con người khai thác nhưng không tách rời tự nhiên, sinh kế gắn với phục hồi sinh thái, du lịch gắn với trải nghiệm cộng đồng. Nếu được quy hoạch đúng, khong gian Cồn Chim có thể trở thành hạt nhân của mô hình kinh tế di sản sinh thái Thị Nại, nơi du khách không chỉ ngắm cảnh mà còn hiểu được cách cư dân ven đầm tổ chức đời sống trên nền tảng môi trường nước lợ.

Bốn là, cần quan tâm phát triển Thị Nại trở thành không gian tín ngưỡng dân gian và ký ức tâm linh của cư dân vùng đầm. Đời sống cư dân ven đầm luôn gắn với những rủi ro của sóng nước, bão gió và nghề biển. Vì vậy, các hình thức tín ngưỡng như thờ thủy thần, cầu ngư, thờ cá Ông, thờ Nam Hải hay các truyền thuyết dân gian về những địa điểm linh thiêng trở thành một phần quan trọng trong cấu trúc văn hóa cộng đồng. Trường hợp Tháp Thầy Bói là một minh chứng tiêu biểu. Đây vừa là điểm du lịch tâm linh, vừa là chốn linh thiêng gắn với truyền thuyết cổ của cư dân địa phương. Các lớp truyền thuyết ấy cho thấy cư dân Thị Nại đã nhân hóa không gian tự nhiên bằng ký ức và niềm tin tâm linh. Một khóm đá, một gò nổi hay một địa điểm giữa đầm không còn là thực thể địa lý thuần túy mà trở thành “điểm neo ký ức” của cộng đồng. Nhờ đó, đầm Thị Nại được cảm nhận như một không gian có linh hồn, nơi con người ứng xử với tự nhiên bằng cả kinh nghiệm sinh kế lẫn sự kính ngưỡng.

Năm là, phát triển hệ cảnh quan của Thị Nại có giá trị gắn liền với cấu trúc đầm – cát – núi – biển. Không gian Thị Nại có tính mở và tính liên kết cảnh quan rất cao. Phía Đông là bán đảo Phương Mai với núi đá, đồi cát và các làng chài, phía Nam nối với vịnh Quy Nhơn; phía Tây gắn với đô thị Quy Nhơn và các làng ven đầm, giữa đầm là Cồn Chim, Tháp Thầy Bói và các vùng bãi bồi. Cầu Thị Nại được khánh thành năm 2006, bắc qua đầm nối bán đảo Phương Mai với thành phố Quy Nhơn, dài 2.475 m với 54 nhịp, trở thành một biểu tượng của Bình Định trước đây và Gia Lai hôm nay.  Chính cấu trúc đầm – cát – núi – biển này tạo cho Thị Nại lợi thế rất lớn trong phát triển du lịch văn hóa – sinh thái. Tuy nhiên, tiềm năng ấy chỉ có thể trở thành kinh tế di sản bền vững nếu được khai thác trên nền tảng bảo tồn. Hiện nay, địa phương đã triển khai nhiệm vụ điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý tổng hợp đầm Thị Nại theo hướng phát triển bền vững, đồng thời có hoạt động tuyên truyền về quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đầm Thị Nại. Ngoài ra, phong trào Toàn dân tham gia bảo vệ nguồn lợi thủy sản và các mô hình đồng quản lý tại Thị Nại, Trà Ổ, Đề Gi cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của cộng đồng trong bảo vệ hệ sinh thái vùng đầm phá.

Như vậy, nhìn từ nhiều phương diện khác nhau, đầm Thị Nại là một không gian di sản tổng hợp, nơi hội tụ đồng thời giá trị lịch sử – thương cảng, sinh thái – môi trường, tín ngưỡng – ký ức và cảnh quan – du lịch. Trong chiến lược phát triển kinh tế di sản của Gia Lai mới, Thị Nại không nên chỉ được định vị như một điểm đến du lịch ven đô, mà cần được nhìn nhận như một trung tâm ký ức biển của vùng duyên hải, nơi lịch sử Chăm Pa, dấu ấn Việt – Hoa, đời sống làng chài, hệ sinh thái rừng ngập mặn và cảnh quan đô thị biển cùng hòa quyện trong một cấu trúc văn hóa đặc thù.

3.1.2. Đầm Trà Ổ - Không gian ký ức và văn hóa làng đầm

Nếu Thị Nại mang dáng dấp của một không gian thương cảng rộng mở và năng động, thì Trà Ổ lại gợi cảm giác tĩnh tại, sâu lắng và giàu tính ký ức hơn. Đây không phải là không gian của những dòng thương thuyền lớn hay các cuộc giao tranh lịch sử quy mô như Thị Nại, mà là một không gian sinh thái, nơi cảnh quan tự nhiên, đời sống cư dân và những lớp trầm tích văn hóa cộng đồng hòa quyện trong nhịp điệu chậm rãi của vùng nước lợ ven biển. Trà Ổ vốn là một vịnh nước mặn cổ từng ăn thông với biển qua cửa Hà Ra. Về sau, do quá trình bồi lấp tự nhiên kéo dài qua nhiều thế kỷ, vùng vịnh này dần khép kín và chuyển hóa thành đầm nước lợ nội địa như hiện nay. Chính sự chuyển đổi địa chất ấy đã tạo nên một không gian sinh thái đặc biệt, vừa mang tính chất của đầm phá ven biển, vừa có sắc thái của một hồ nước nội địa rộng lớn. Có thể nói, Trà Ổ là một “di sản địa chất – sinh thái sống”, nơi dấu vết của biển cổ vẫn còn lưu lại trong cấu trúc môi trường và hệ sinh thái nước lợ.

Theo Đồng Khánh địa dư chí (triều Nguyễn), “đầm Trà Ổ có chu vi hàng nghìn trượng, nằm về phía Đông Bắc huyện lị hơn 46 dặm, tiếp nhận nước từ nhiều khe suối rồi thoát ra biển qua cửa Hà Ra. Tại miệng đầm có gò cát chắn ngang khiến ghe thuyền khó qua lại quanh năm; chỉ vào mùa nước lũ, dòng chảy mạnh mới giúp tàu thuyền lưu thông thuận lợi”. Những ghi chép này cho thấy môi trường tự nhiên đã chi phối rất mạnh đến nhịp sống và hoạt động giao thương của cư dân ven đầm. Đồng thời, nó cũng phản ánh trình độ quan sát và hiểu biết khá sâu sắc của người xưa về hệ thủy văn vùng nước lợ. Khác với Thị Nại mang tính mở của một cửa biển giao thương, Trà Ổ lại mang tính khép của một không gian làng đầm. Đến hôm nay, nơi đây vẫn còn lưu giữ khá rõ nhịp sống truyền thống của cư dân vùng thủy canh nước lợ miền Trung. Những chiếc thuyền nhỏ lặng lẽ trên mặt đầm, nghề đánh bắt thủ công, cảnh chăn vịt ven nước, trồng lúa ở các bãi đất thấp quanh đầm hay những làng cư trú nép mình bên mặt nước đã tạo nên một cảnh quan nhân văn rất riêng của Trà Ổ hôm nay. Điều đáng chú ý là ở đầm Trà Ổ, sinh kế không tách rời cảnh quan mà hòa vào cảnh quan để tạo thành một chỉnh thể văn hóa. Những hoạt động như chèo ghe, giăng lưới, thả câu, đan đó hay nuôi cá nước lợ không chỉ đơn thuần là lao động mưu sinh mà còn là một phần của nhịp sống cộng đồng. Chính vì vậy, Trà Ổ không chỉ là không gian tự nhiên mà còn là không gian sống của ký ức làng quê ven đầm.

Một trong những giá trị nổi bật nhất của Trà Ổ là hệ thủy sản đặc trưng của môi trường nước lợ. Các tư liệu hiện nay cho biết nơi đây nổi tiếng với các loài cá chình mun, chình bông và nhiều sản vật đặc hữu khác. Chính sự giao thoa giữa nước ngọt và nước mặn đã tạo nên điều kiện sinh thái thích hợp cho các loài thủy sản quý phát triển. Không chỉ mang giá trị kinh tế, các sản vật ấy còn gắn với tri thức khai thác truyền thống của cư dân địa phương. Những kinh nghiệm liên quan đến mùa nước, độ mặn, dòng chảy hay phương thức đánh bắt đã được tích lũy và truyền lại qua nhiều thế hệ, tạo thành một dạng tri thức bản địa quý giá của cư dân vùng đầm phá. Từ góc nhìn kinh tế di sản, đây là nguồn tài nguyên văn hóa – sinh thái có giá trị đặc biệt. Các sản phẩm như cá chình, ẩm thực vùng nước lợ hay các mô hình trải nghiệm nghề cá truyền thống hoàn toàn có thể trở thành thương hiệu đặc trưng của địa phương nếu được tổ chức và định vị phù hợp. Tuy nhiên, giá trị của Trà Ổ không nằm ở việc phát triển các mô hình du lịch đại trà hay thương mại hóa không gian đầm phá bằng các công trình bê tông hóa quy mô lớn. Ngược lại, điều làm nên sức hấp dẫn của đầm chính là sự tĩnh lặng, nguyên sơ và nhịp sống chậm của một không gian làng đầm truyền thống.

Do vậy, Trà Ổ phù hợp hơn với mô hình du lịch chậm, du lịch trải nghiệm và giáo dục sinh thái. Đây là nơi du khách có thể chèo thuyền trên mặt đầm lúc bình minh, nghe kể câu chuyện về Hoa Ổ đàm – Trà Ổ đàm – Châu Trúc, tìm hiểu quá trình biến đổi từ vịnh biển cổ thành đầm nước lợ hay trải nghiệm đời sống cư dân ven đầm qua các hoạt động đánh bắt thủ công, chế biến thủy sản và sinh hoạt cộng đồng. Giá trị lớn nhất của không gian này không nằm ở sự náo nhiệt mà ở khả năng giúp con người sống chậm, cảm nhận nhịp điệu tự nhiên và chiều sâu ký ức văn hóa của làng quê ven nước. Bên cạnh đó, Trà Ổ còn có ý nghĩa như một kho lưu trữ ký ức sinh thái của vùng duyên hải. Quá trình chuyển hóa từ vịnh biển thành đầm nước lợ, sự thay đổi địa danh qua các thời kỳ, nhịp sống làng đầm và hệ tri thức bản địa của cư dân đã tạo nên một cấu trúc văn hóa đặc thù khó thay thế. Trong bối cảnh hiện nay, khi nhiều không gian ven biển đang bị đô thị hóa và thương mại hóa mạnh mẽ, việc bảo tồn Trà Ổ không chỉ là bảo vệ một vùng nước lợ, mà còn là gìn giữ một dạng thức văn hóa làng ven đầm đặc sắc của miền Trung Việt Nam

3.1.3. Đầm Đề Gi - Không gian sinh kế cộng đồng và quản trị vùng bờ

Nếu Thị Nại nổi bật ở tính chất thương cảng – lịch sử, Trà Ổ mang chiều sâu ký ức làng đầm, thì Đề Gi lại phản ánh rõ nét nhất mối quan hệ giữa sinh kế cộng đồng với quản trị tài nguyên vùng bờ. Đây là không gian đầm phá thể hiện khá điển hình quá trình cư dân ven biển thích ứng với môi trường nước lợ để hình thành các mô hình kinh tế cộng đồng dựa vào khai thác và nuôi trồng thủy sản. Đầm Đề Gi nằm ở phía Bắc tỉnh Gia Lai mới, trải dài qua khu vực Phù Mỹ và Phù Cát, thông ra biển Đông qua cửa Đề Gi. Với cấu trúc nửa kín, môi trường nước lợ nơi đây tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài thủy sản và các hệ sinh thái ven bờ. Chính vì vậy, từ lâu Đề Gi đã trở thành một trong những vùng nuôi trồng và khai thác thủy sản quan trọng của địa phương.

Theo các báo cáo chuyên đề của các cơ quan quản lý, Đề Gi không chỉ có giá trị sinh thái mà còn đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế cư dân ven biển. Điều này cho thấy Đề Gi đã sớm được nhìn nhận như một không gian sinh thái cần quản trị tổng hợp thay vì chỉ khai thác đơn thuần. Giá trị trội bật của Đề Gi nằm ở khả năng hình thành một hệ sinh thái nhân văn dựa trên cộng đồng cư dân ven đầm. Khác với những vùng đô thị biển phát triển mạnh theo hướng thương mại dịch vụ, cư dân Đề Gi vẫn duy trì khá rõ cấu trúc làng chài truyền thống với nghề đánh bắt ven bờ, nuôi trồng thủy sản, chế biến hải sản và sản xuất nước mắm. Những chiếc ghe nhỏ neo đậu dọc cửa biển, những sân phơi cá, phơi mực, các cơ sở chế biến nước mắm gia truyền hay hoạt động mua bán thủy sản tại bến cá đã tạo nên diện mạo rất riêng của vùng đầm phá này. Sinh kế ở Đề Gi không chỉ mang tính kinh tế mà còn phản ánh hệ thống tri thức bản địa phong phú của cư dân vùng nước lợ. Người dân nơi đây tích lũy kinh nghiệm về con nước, độ mặn, hướng gió, dòng chảy và mùa vụ thủy sản để tổ chức hoạt động đánh bắt và nuôi trồng. Những kinh nghiệm ấy được “truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành một phần của văn hóa cộng đồng ven biển. Chính sự gắn bó lâu dài với môi trường đầm phá đã hình thành nên ý thức cộng đồng khá rõ trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản và duy trì hệ sinh thái vùng bờ”.

Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng suy giảm, Đề Gi cũng là nơi phản ánh rõ những thách thức của quá trình khai thác tài nguyên ven biển hiện nay. Áp lực nuôi trồng thủy sản, ô nhiễm môi trường nước, khai thác quá mức và biến đổi khí hậu đang tác động mạnh đến hệ sinh thái đầm phá. Tuy nhiên, chính trong bối cảnh ấy, mô hình đồng quản lý cộng đồng tại Đề Gi đã từng bước được triển khai như một hướng tiếp cận đáng chú ý. Theo các cơ quan chức năng, nhiều xã ven đầm Thị Nại, Trà Ổ, Đề Gi đã tham gia các mô hình Toàn dân tham gia bảo vệ nguồn lợi thủy sản và đồng quản lý cộng đồng nhằm tăng cường vai trò của người dân trong bảo vệ hệ sinh thái vùng bờ. Đây là một chuyển biến quan trọng bởi nó cho thấy quá trình kết hợp giữa quản trị hiện đại với tri thức bản địa và sự tham gia của cộng đồng cư dân địa phương. Từ góc độ phát triển bền vững, mô hình đồng quản lý ở Đề Gi không chỉ có ý nghĩa môi trường mà còn mang giá trị văn hóa – xã hội sâu sắc. Nó giúp tái khẳng định vai trò chủ thể của cư dân ven đầm trong quản trị không gian sinh tồn của mình. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để hình thành các mô hình kinh tế di sản dựa vào cộng đồng, nơi người dân không chỉ là đối tượng hưởng lợi mà còn là người gìn giữ và kể câu chuyện di sản của địa phương.

Bên cạnh sinh kế và quản trị môi trường, Đề Gi còn là không gian giàu giá trị văn hóa dân gian. Các làng chài ven đầm vẫn lưu giữ nhiều lễ tục gắn với biển như cầu ngư, cúng thủy thần, thờ cá Ông hay các nghi lễ trước mùa đánh bắt. Cùng với đó là nghề làm nước mắm, chế biến hải sản khô và các hình thức trao đổi thủy sản truyền thống. Những hoạt động ấy không chỉ phản ánh đời sống kinh tế mà còn thể hiện cấu trúc văn hóa cộng đồng ven biển được hình thành qua nhiều thế hệ, tiêu biểu như vạn chài Vĩnh Lợi (Mỹ Thành, Phù Mỹ trước sáp nhập)

Như vậy, Đề Gi không chỉ là một đầm nước lợ có giá trị sinh thái mà còn là không gian phản ánh rõ mối quan hệ giữa cộng đồng cư dân với quản trị tài nguyên vùng bờ. Đây là nơi có thể triển khai các mô hình kinh tế di sản theo hướng cộng đồng – sinh thái – trải nghiệm, kết hợp giữa bảo vệ môi trường, gìn giữ văn hóa làng chài và phát triển sinh kế bền vững. Trong chiến lược phát triển không gian văn hóa đầm phá ven biển Gia Lai, Đề Gi vì thế cần được nhìn nhận như một mô hình di sản cộng đồng vùng nước lợ, nơi tri thức bản địa, sinh kế truyền thống và quản trị môi trường cùng tồn tại trong một cấu trúc văn hóa đặc thù.

3.2. Định hướng phát huy không gian văn hóa đầm phá tại Gia Lai trong thời gian tới

Trong bối cảnh phát triển hiện nay, không gian đầm phá ven biển Gia Lai đang đứng trước nhiều thách thức như đô thị hóa, ô nhiễm môi trường nước, khai thác tài nguyên quá mức và xu hướng thương mại hóa du lịch. Nhiều khu vực ven đầm bị thu hẹp bởi các hoạt động xây dựng, nuôi trồng thủy sản thiếu kiểm soát hoặc phát triển du lịch theo hướng đại trà. Điều đó không chỉ làm suy giảm hệ sinh thái nước lợ mà còn kéo theo nguy cơ mai một tri thức bản địa, đứt gãy ký ức cộng đồng và biến đổi cấu trúc văn hóa truyền thống của cư dân ven đầm. Theo đó, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị không gian đầm phá không thể chỉ tiếp cận từ góc độ môi trường hay du lịch đơn thuần, mà cần được nhìn nhận như một chiến lược phát triển văn hóa bền vững. Điều đó đòi hỏi phải xây dựng một mô hình tích hợp giữa sinh thái, văn hóa và phát triển cộng đồng, trong đó đầm phá được xem là hệ sinh thái di sản thay vì chỉ là tài nguyên khai thác kinh tế. Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng cần quan tâm một số định hướng sau:

3.2.1. Chuyển từ tư duy khai thác sang kiến tạo hệ sinh thái di sản

Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là thay đổi tư duy phát triển đối với không gian đầm phá. Trong nhiều năm, các đầm phá ven biển chủ yếu được nhìn nhận như nguồn tài nguyên phục vụ nuôi trồng thủy sản, khai thác hải sản hoặc phát triển du lịch cảnh quan. Cách tiếp cận này tuy mang lại giá trị kinh tế trước mắt nhưng dễ dẫn đến tình trạng khai thác quá mức, làm mất cân bằng sinh thái và suy giảm các giá trị văn hóa truyền thống. Trong khi đó, từ góc nhìn văn hóa học, đầm phá cần được tiếp cận như một hệ sinh thái di sản, nơi các yếu tố tự nhiên và nhân văn tồn tại trong mối liên kết hữu cơ. Trong hệ sinh thái ấy, “cảnh quan đầm nước, rừng ngập mặn, làng chài, tín ngưỡng thủy thần, lễ cầu ngư, tri thức bản địa, ẩm thực nước lợ và các mô hình sinh kế truyền thống đều là những thành tố không thể tách rời. Nếu một yếu tố bị phá vỡ, toàn bộ cấu trúc văn hóa đầm phá cũng sẽ bị ảnh hưởng”. Do đó, bảo tồn đầm phá không chỉ là bảo vệ mặt nước hay nguồn lợi thủy sản, mà còn là bảo vệ cấu trúc văn hóa cộng đồng đã hình thành qua nhiều thế hệ cư dân. Điều này đòi hỏi phải chuyển từ tư duy khai thác cảnh quan sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái di sản, trong đó yếu tố văn hóa giữ vai trò trung tâm định hướng phát triển.

3.2.2. Xây dựng mô hình kinh tế di sản đặc thù cho từng đầm phá

Một trong những định hướng quan trọng là xây dựng mô hình kinh tế di sản phù hợp với đặc điểm riêng của từng không gian đầm phá. Thay vì phát triển đồng loạt theo cùng một mô hình du lịch biển, cần xác định rõ bản sắc chức năng của từng đầm nhằm tránh trùng lặp sản phẩm và tạo nên cấu trúc liên kết vùng.

Đối với Thị Nại, cần định vị đây là không gian thương cảng – sinh thái – du lịch cộng đồng. Giá trị nổi bật của Thị Nại nằm ở sự giao thoa giữa lịch sử Chăm Pa, ký ức thương cảng, hệ sinh thái rừng ngập mặn và cảnh quan đầm – cát – núi – biển. Vì vậy, cần ưu tiên phát triển các mô hình trải nghiệm cộng đồng gắn với Cồn Chim, làng chài ven đầm, hoạt động đánh bắt thủy sản, du lịch sinh thái rừng ngập mặn và các sản phẩm kể chuyện di sản liên quan đến cửa Thị Nại, Tháp Thầy Bói hay các trận thủy chiến lịch sử.

Đối với Trà Ổ, định hướng phù hợp hơn là phát triển du lịch chậm, giáo dục sinh thái và trải nghiệm ký ức làng đầm. Giá trị của Trà Ổ không nằm ở sự sôi động mà ở tính tĩnh tại và chiều sâu văn hóa. Không gian này cần được bảo tồn như một “bảo tàng sinh thái sống”, nơi du khách có thể trải nghiệm nhịp sống làng quê ven đầm, chèo thuyền, đánh bắt thủ công, tìm hiểu thư tịch Hán Nôm về Hoa Ổ đàm – Trà Ổ đàm và khám phá các giá trị ẩm thực gắn với cá chình, thủy sản nước lợ.

Trong khi đó, Đề Gi nên được phát triển theo hướng đồng quản lý tài nguyên và kinh tế cộng đồng ven đầm. Không gian này phù hợp với các mô hình du lịch cộng đồng gắn với nghề cá, chế biến nước mắm, nuôi trồng thủy sản và giáo dục bảo vệ môi trường vùng bờ. Các mô hình đồng quản lý cộng đồng hiện nay tại Đề Gi có thể trở thành nền tảng để phát triển kinh tế di sản theo hướng người dân vừa là chủ thể bảo tồn vừa là chủ thể hưởng lợi từ di sản.

3.2.3. Đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm của quá trình bảo tồn

Không gian đầm phá là kết quả của quá trình cộng đồng cư dân ven biển thích nghi với môi trường nước lợ trong suốt nhiều thế kỷ. Vì vậy, “người dân địa phương không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà phải được xem là chủ thể trung tâm của di sản”. Trong nhiều trường hợp hiện nay, hoạt động du lịch và khai thác đầm phá vẫn chủ yếu do doanh nghiệp hoặc các đơn vị bên ngoài tổ chức, trong khi cộng đồng cư dân địa phương chỉ tham gia ở vai trò cung cấp dịch vụ đơn giản. Điều này dễ dẫn đến tình trạng cộng đồng bị tách khỏi chính không gian văn hóa của mình. Để khắc phục vấn đề đó, cần xây dựng các mô hình bảo tồn dựa vào cộng đồng. Người dân ven đầm phải được tham gia vào quá trình quản trị, kể chuyện di sản, tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng dẫn du lịch và hưởng lợi trực tiếp từ các hoạt động kinh tế di sản. Những tri thức bản địa về con nước, mùa cá, nghề đánh bắt hay tín ngưỡng ven biển cần được xem là một dạng di sản tri thức cộng đồng có giá trị đặc biệt. Ngoài ra, mô hình đồng quản lý cộng đồng tại Thị Nại và Đề Gi trong thời gian qua cần được xem là cơ sở quan trọng để mở rộng hướng tiếp cận này. Đây không chỉ là giải pháp quản lý môi trường mà còn là cách tái khẳng định vai trò chủ thể văn hóa của cư dân ven đầm.

3.2.4. Ứng dụng công nghệ số trong quản trị không gian di sản

Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, việc xây dựng cơ sở dữ liệu số cho hệ thống đầm phá ven biển Gia Lai là yêu cầu cần thiết. Đây không chỉ là công cụ quản lý mà còn là nền tảng để kết nối nghiên cứu, giáo dục, du lịch và bảo tồn cộng đồng. Cơ sở dữ liệu này cần bao gồm: bản đồ GIS đầm phá; dữ liệu về hệ sinh thái, nguồn lợi thủy sản; hệ thống địa danh, di tích, tín ngưỡng; tư liệu hình ảnh, video, ký ức cộng đồng; cùng các tuyến trải nghiệm văn hóa – sinh thái. Việc số hóa dữ liệu không chỉ giúp quản lý hiệu quả mà còn tạo điều kiện để quảng bá di sản theo hướng hiện đại và bền vững. Đặc biệt, đối với các không gian như Trà Ổ hay Thị Nại, việc xây dựng bản đồ ký ức số tích hợp thư tịch Hán Nôm, truyền thuyết dân gian, địa danh cổ và tư liệu cộng đồng sẽ giúp làm nổi bật chiều sâu văn hóa của đầm phá thay vì chỉ khai thác cảnh quan bề mặt.

3.2.5. Liên kết đầm phá với không gian văn hóa Gia Lai mới

Một định hướng quan trọng khác là kết nối hệ thống đầm phá ven biển với không gian văn hóa cao nguyên phía Tây để hình thành cấu trúc di sản liên vùng của Gia Lai mới. Điều này không chỉ tạo ra các tuyến du lịch liên kết mà còn khẳng định bản sắc “núi – đồng bằng – biển” của không gian văn hóa Gia Lai hiện nay. Các sản phẩm trải nghiệm có thể kết nối không gian cồng chiêng – sử thi Tây Nguyên với lễ hội cầu ngư ven biển, kết nối tuyến Tây Sơn thượng đạo với cửa Thị Nại hay xây dựng hành trình ẩm thực từ đại ngàn xuống biển. Qua đó, hệ thống đầm phá không còn là những điểm đến rời rạc mà trở thành mắt xích quan trọng trong cấu trúc văn hóa liên vùng của Gia Lai mới.

4. Kết luận

Không gian đầm phá ven biển Bình Định trước sáp nhập là một bộ phận quan trọng trong cấu trúc văn hóa Gia Lai mới. Thị Nại, Trà Ổ và Đề Gi không chỉ mang giá trị sinh thái mà còn là nơi lưu giữ ký ức lịch sử, tri thức bản địa và bản sắc cộng đồng. Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn các đầm phá không thể chỉ dừng lại ở bảo vệ môi trường tự nhiên, mà cần tiếp cận theo hướng bảo tồn không gian văn hóa sống. Điều đó đòi hỏi sự kết hợp giữa quản trị sinh thái, phát triển cộng đồng, ứng dụng công nghệ số và xây dựng mô hình kinh tế di sản bền vững. Nếu được quy hoạch đúng hướng, hệ thống đầm phá ven biển có thể trở thành một trong những nền tảng quan trọng để định vị bản sắc Gia Lai mới – một không gian văn hóa liên kết giữa đại ngàn và biển cả, giữa ký ức lịch sử và khát vọng phát triển bền vững.

Trong thực tiễn hiện nay, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị không gian văn hóa đầm phá ven biển Gia Lai không chỉ nhằm gìn giữ cảnh quan tự nhiên mà còn hướng đến bảo vệ ký ức cộng đồng, tri thức bản địa và cấu trúc văn hóa vùng thủy canh nước lợ. Đây chính là nền tảng để hình thành mô hình kinh tế di sản bền vững, nơi phát triển kinh tế gắn chặt với bảo tồn sinh thái và gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương.

Theo vanhoavaphattrien.vn


 Tuổi trẻ Gia Lai ra quân chiến dịch hè, 100 ngày tiên phong chuyển đổi số

Anh Phạm Hồng Hiệp - Bí thư Tỉnh Đoàn Gia Lai phát biểu. Ảnh: Trương Định

Hàng nghìn đoàn viên, thanh niên tỉnh Gia Lai bước vào Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè 2026 với khí thế sôi nổi, mang theo tinh thần xung kích, sáng tạo và khát vọng cống hiến. Điểm nhấn năm nay là chiến dịch “100 ngày thanh niên Gia Lai tiên phong chuyển đổi số”.

Sáng 24/5, Tỉnh Đoàn Gia Lai tổ chức lễ ra quân Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè, hưởng ứng Tháng hành động vì trẻ em và Ngày Môi trường thế giới năm 2026.

Phát biểu tại buổi lễ, anh Phạm Hồng Hiệp - Bí thư Tỉnh Đoàn Gia Lai chia sẻ: mỗi mùa hè tình nguyện đi qua đều để lại những dấu ấn đẹp của tuổi trẻ bằng những công trình, phần việc cụ thể; bằng tinh thần sẻ chia, trách nhiệm và những giá trị tốt đẹp được lan tỏa trong cộng đồng.

Anh Phạm Hồng Hiệp mong rằng mỗi đoàn viên, thanh niên sẽ tiếp tục phát huy nhiệt huyết, tinh thần xung kích, tình nguyện, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng đến những nơi cần thanh niên, làm những việc có ích cho xã hội.

Theo Tỉnh Đoàn Gia Lai, Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2026 được triển khai từ tháng 5 đến hết tháng 8 với chủ đề: “Tuổi trẻ Gia Lai xung kích đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tiên phong chuyển đổi số, sáng tạo vì cộng đồng”. Chiến dịch năm nay gồm 1 chương trình và 5 chiến dịch trọng tâm, bao gồm: Chương trình “Tiếp sức mùa thi”; các chiến dịch “Mùa hè xanh”, “Hoa phượng đỏ”, “Kỳ nghỉ hồng”, “Hành quân xanh”. Đặc biệt, năm nay, Tỉnh Đoàn Gia Lai triển khai chiến dịch “100 ngày thanh niên Gia Lai tiên phong chuyển đổi số”.

Để Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2026 đạt kết quả thiết thực, phát huy tinh thần xung kích của tuổi trẻ và mang lại giá trị tích cực cho cộng đồng, Bí thư Tỉnh Đoàn Gia Lai Phạm Hồng Hiệp đề nghị các cấp bộ Đoàn, Hội, Đội trong toàn tỉnh bám sát nhu cầu thực tiễn của từng địa phương, đơn vị để tổ chức các hoạt động tình nguyện thiết thực, hiệu quả. Trong đó, ưu tiên hỗ trợ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn khó khăn và các khu vực chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu.

Bên cạnh đó, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, quản lý, điều phối và triển khai các hoạt động tình nguyện. Tổ chức tốt các hoạt động sinh hoạt hè cho thiếu nhi; chú trọng trang bị kỹ năng sống, kỹ năng số, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích, đuối nước, bạo lực và xâm hại trẻ em; tạo môi trường an toàn, lành mạnh để thiếu nhi phát triển toàn diện….

Theo tienphong.vn


 Sắp dời làng phong Quy Hòa, nhường đất cho "siêu" dự án

Toàn cảnh các phân khu điều trị, hòa nhập tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa

Làng phong Quy Hòa cùng Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa (phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai) sắp được dời đi, để nhường đất cho "siêu" dự án du lịch nghỉ dưỡng ven biển.

làng phong Quy Hòa không chỉ được biết đến là nơi lưu dấu những ngày cuối đời của thi sĩ Hàn Mạc Tử; đây còn là ngôi làng của hàng trăm bệnh nhân phong từ nhiều tỉnh, thành đến tá túc, điều trị.

Làng phong Quy Hòa ngày nay không còn gợi ám ảnh bệnh tật, mà trở thành ngôi làng xanh, sạch, đẹp bên bờ biển.

Nơi đây cũng dần thành điểm du lịch cộng đồng hấp dẫn với vẻ hoang sơ, bình yên, cổ kính cùng những lớp nhà cửa, hạ tầng mang đậm phong cách phương Tây.

Du khách đến đây được nghe nhiều câu chuyện nghị lực của bệnh nhân phong, tìm hiểu lịch sử một vùng đất nhiều biến cố nhưng sâu sắc giá trị nhân văn của y học, khoa học đối với những phận người yếu thế.

Vừa qua, UBND tỉnh Gia Lai thống nhất chủ trương về một số nội dung của quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng quốc tế biển Ghềnh Ráng - Vũng Chua, với diện tích hơn 2.878ha tại 2 tiểu khu núi Vũng Chua và núi Xuân Vân - Quy Hòa.

Theo đó, dự án bao trùm lên thung lũng Quy Hòa, trong đó có Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa và khu nhà ở bệnh nhân làng phong ở phường Quy Nhơn Nam.

Chủ trương trên đã được Bộ Y tế thống nhất. Địa điểm xây dựng mới bệnh viện được quy hoạch tại thôn Lộc Hạ, xã Tuy Phước, tỉnh Gia Lai.

Theo lãnh đạo UBND tỉnh Gia Lai, đây là dự án trọng điểm, có ý nghĩa chiến lược trong định hướng phát triển đô thị, du lịch, dịch vụ chất lượng cao và tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Hiện làng phong Quy Hòa có 250 hộ gia đình, với khoảng 300 bệnh nhân phong sinh sống.

Sau khi điều trị ổn định, nhiều bệnh nhân được bệnh viện cùng các sơ, nữ tu Dòng Phan Sinh hỗ trợ dựng nhà, tạo điều kiện hòa nhập và gây dựng cuộc sống mới ngay tại làng phong.

Khi nghe tin sắp di dời, nhiều gia đình bệnh nhân phong ở Quy Hòa ít nhiều lo lắng.

Bà Nguyễn Thị Chi (quê Bắc Ninh) chia sẻ: “Ở đây dù không giàu có, nhưng bà con bệnh nhân phong yên tâm vì có nhiều nguồn sinh kế, hỗ trợ từ bên ngoài. Nếu phải dời đi, mong chính quyền quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất để chúng tôi ổn định đời sống, yên tâm điều trị".

Theo www.sggp.org.vn

Tác giả: Ban Biên tập

Tin nổi bật Tin nổi bật